Home » Blog » Uncategorized » Truyện ngắn

Truyện ngắn

posted in: truyen, Uncategorized 0
Chiếc nhẫn bị mất

Với tư cách người cố vấn và là một vị thầy tâm linh, một tuần hai lần tôi đến thăm một người phụ nữ làm nghề giáo đang mắc bệnh ung thư. Cô khoảng chừng bốn mươi tuổi và bác sĩ cho biết rằng cô chỉ có thể sống tối da thêm vài tháng nữa. Thường chúng tôi rất ít nói chuyện với nhau và hầu như chỉ ngồi trong im lặng. Và khi ngồi như thế, cô ấy đã cảm nhận được nhiều lần, dù chỉ trong thoáng chốc, trạng thái tĩnh lặng ở bên trong mà trước đây, khi còn là giáo viên bận rộn, cô chưa bao giờ cảm nhận được.

Nhưng một hôm tôi đến thì thấy cô đang rất giận dữ, và tôi buột miệng hỏi: “Hôm nay đã xảy ra chuyện gì?”. Cô bảo rằng chiếc nhẫn kim cương của cô, một vật rất có giá trị về tiền bạc cũng như tình cảm, đã biến mất và cô ấy doan chắc với tôi rằng chính người phụ nữ thường đến chăm sóc cho cô mỗi ngày đã lấy mất. Cô than rằng không thể hiểu tại sao người giúp việc kia lại nhẫn tâm với cô như vậy. Cô hỏi tôi rằng cô có nên lập tức chất vấn người phụ nữ ấy hay nên báo với nhà chức trách. Tôi bảo rằng tôi không thể khuyên cô điều gì nên hay không nên trong lúc này, tuy nhiên tôi có hỏi rằng vào giai đoạn này trong cuộc đời, cô còn quan tâm làm gì đến một chiếc nhẫn hay bất cứ một vật nào khác mà cô sở hữu. “Thầy không biết đó thôi”, cô nói, “Đây là chiếc nhẫn của bà ngoại tôi để lại. Tôi luôn đeo nó trên tay cho đến khi tôi bị ốm nặng và những ngón tay của tôi sưng phù lên như bây giờ. Đối với tôi, giá trị tình cảm của vật đó nhiều hơn chuyện đấy chỉ là một chiếc nhẫn, làm sao tôi không buồn cho được?”.

Vẻ giận dữ, thái độ chống chế cùng cách trả lời cấp bách của cô cho thấy rằng cô chưa thực sự định thần trở lại, quay về khoảnh khắc hiện tại để nhìn lại lòng mình và tách ly những phản ứng của cô với sự việc đã xảy ra và quan sát cả hai. Sự giận dữ và thái độ biện bạch của cô là dấu hiệu cho thấy bản ngã của cô đang nắm chủ quyền và lên tiếng thông qua con người cô. Vì vậy, tôi bảo cô: “Tôi sẽ hỏi cô một vài điều, nhưng thay vì suy nghĩ rồi trả lời ngay như bình thường, cô hãy từ tốn lắng lòng xem rằng cô có thể tìm ra được câu trả lời từ bên trong cô mà không phải bằng suy tư. Tôi sẽ ngừng một lát sau mỗi câu hỏi. Một câu trả lời có thể đến với cô, nhưng có thể là đến qua hình thức của một cảm giác hơn là bằng ngôn từ”. Khi cô bảo rằng cô đã sẵn sàng, tôi liền hỏi:

Cô có thấy rằng sớm muộn gì cô cũng phải buông bỏ chiếc nhẫn ấy, điều này có lẽ là không còn bao lâu nữa, đúng không? Cô nghĩ cô cần thêm bao lâu nữa trước khi cô sẵn sàng để buông bỏ chiếc nhẫn ấy? Khi không còn chiếc nhẫn ấy thì cô có cảm thấy giá trị của cô bị giảm sút? Khi mất chiếc nhẫn thì bản chất chân thực của cô có bị giảm sút đi không?”.

Sau câu hỏi cuối cùng của tôi, vài phút đã trôi qua mà cô ấy vẫn ngồi trong im lặng.

Khi cô bắt đầu trả lời thì nét mặt của cô như thoáng có nụ cười và dường như cô đang cảm nhận được sự bình an đang có mặt ở trong cô. “Câu hỏi cuối của thầy làm tôi nhận ra được một điều rất quan trọng. Nhưng trước đó, khi tôi hỏi lý trí của tôi về câu thầy hỏi thì nó bảo: “Có chứ, giá trị của tôi chắc chắn sẽ giảm đi”. Rồi tôi tự hỏi lại mình câu hỏi: “Liệu bản chất chân thực của tôi có bị suy giảm khi tôi không còn sở hữu chiếc nhẫn ấy?” thì lần này, thay vì suy nghĩ để tìm ra một câu trả lời, tôi chỉ để ý đến dòng cảm xúc đang tuôn chảy bên trong mình. Và bất chợt tôi cảm nhận được Sự Hiện Hữu của chính tôi mà từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ cảm nhận được. Nếu tôi đang có thể cảm nhận được Sự Hiện Hữu của chính mình mạnh mẽ đến thế, trong khi tôi đang không có chiếc nhẫn, vậy thì bản chất chân thật của tôi sẽ không hề bị suy giảm chút nào khi tôi buông bỏ chiếc nhẫn. Bây giờ tôi vẫn còn đang cảm nhận được điều đó, một cảm nhận rất bình an và sống động. “Đó là an nhiên tự tại, là niềm vui của Hiện Hữu”, tôi nói. Cô chỉ có thể cảm nhận được khi cô bước ra khỏi cái đầu hay suy tư của mình: Hiện Hữu chỉ có được ở trong ta qua cảm nhận. Bạn không thể suy nghĩ để mong tìm ra nó được. Bản ngã của bạn không thể biết gì về Hiện Hữu vì bản ngã chỉ gồm toàn những ý nghĩ. Cô đã lẫn lộn chiếc nhẫn, mà thực ra cũng chỉ là một ý nghĩ trong đầu cô, với cảm nhận về Sự Hiện Hữu của chính cô. Cô đã sai lầm khi cho rằng một phần Hiện Hữu của cô nằm trong chuyện cô sở hữu chiếc nhẫn ấy.

Bất cứ cái gì mà bản ngã ta cố bám víu vào đều được dùng để thay thế cho trải nghiệm về Hiện Hữu, vì đó là cái mà nó không thể cảm nhận được. Ta có thể quý trọng và nâng niu đồ vật nhưng nếu ta để bị vướng mắc vào chúng thì lúc đó ta đã đồng hóa mình với bản ngã nhỏ hẹp ở trong ta. Thật ra bạn không thể vướng mắc với một đồ vật nào cả, mà thực ra bạn vướng mắc vào một ý nghĩ rằng vật ấy là của “Tôi”. Khi bạn đánh mất một vật nào đó và bạn hoàn toàn chấp nhận sự mất mát ấy, bạn sẽ vượt qua được bản ngã và từ đó bản chất chân thực của bạn – cũng chính là nhận thức, là Tâm – sẽ lộ điện”.

Cô ấy nói: “Giờ đây tôi mới thực sự hiểu điều mà Chúa Jesus đã từng nói trước đây: “Nếu ai đó muốn lấy chiếc áo mà anh em đang mặc, thì anh em hãy cởi và cho họ luôn.

Thức tỉnh mục đích sống


Muốn kiếp nhân sinh

Bôn ba khắp nẻo nhân sinh.
Không ai mang theo được thứ gì khi rời xa thế giới này , Trừ công và tội.
Chính bạn mới chuyển hóa được nghiệp quả của mình, không phải bất kỳ một ai khác.
Nhân quả đừng đợi thấy mới tin. Nhân quả là bảng chỉ đường giúp con người tìm về thiện lương.

Khi qua đời, con người rời khỏi xác thân vật chất và hiện hữu dưới hình thức khác gọi là “thân trung ấm”(Bardo) hay vong linh(Spirit). Đây là trạng thái trung gian giữa cái chết và lần tái sinh tiếp theo.

Thứ duy nhất thật sự hiện hữu là “tàng thức”, nó là căn bản của sự tồn tại, là nền móng của mọi tâm thức. Mọi tư tưởng, lời nói, hành động trong một kiếp sống dù tốt hay xấu đều tạo ra nhân hay chủng tử được lưu trữ trong tàng thức, không bao giờ mất đi.

“Nguyên Phong”

Mọi người đối xử với ta thế nào là nghiệp của họ.
Còn ta phải ứng ra sao là nghiệp của ta.

“Wayne Dyer”

Mỗi buổi sáng, chúng ta vội cầm lấy tờ báo để tìm các tin tức sôi nổi nhất. Nếu không có tin gì về chiến tranh, thiên tai, xáo trộn, khó khăn kinh tế thì chúng ta vứt tờ báo xuống đất và than rằng chả có gì đang xem.

Hãy quan sát lòng mình một cách thành thật xem mình muốn gì ? chúng ta muốn bình an hay kích động ? phải chăng chúng ta đang náo nức muốn cái gì? một giấc ngủ bình an nào có khó, nào xa xôi diệu vợi , tốn công nhọc sức mới có…


Cám ơn đời
  1. Nếu hàng ngày bạn vẫn phải nấu cơm, rửa bát, điều đó chứng tỏ bạn vẫn có “cơm ” để ăn.
  2. Nếu bạn phải thông cống, sửa điện, điều đó chứng tỏ bạn vẫn đang có một “Ngôi nhà” để ở.
  3. Nếu đôi khi con bạn làm cho bạn khó chịu, cháu bạn làm bạn mệt mỏi, điều đó chứng tỏ bạn đang có “gia đình”.
  4. Nếu bạn vẫn phải tốn tiền chi phí xăng xe, điều đó chứng tỏ bạn vẫn có “đủ sức khỏe & xe” để lái.
  5. Nếu ai đó khen, chê, nói xấu bạn vì lướt web, chơi phây, thơ, ca, hò vè trên mạng, điều đó chứng tỏ bạn vẫn đủ “sức khỏe tinh thần”.
  6. Nếu bạn vẫn phải quét sạch lá rụng đầy sân, đầy đường hàng ngày, điều đó chứng tỏ bạn “chưa phải nằm một chỗ”.
  7. Nếu nửa kia của bạn cự cãi bất đồng với bạn, điều đó chứng tỏ bạn vẫn “còn đủ cả đôi”.
  8. Và nếu sáng sớm chuông báo thức mà bạn vẫn đưa tay để dập chuông, điều đó chứng tỏ bạn ” vẫn còn sống” để bước vào Chào ngày mới!
  9. Nếu mỗi sớm mai thức dậy, mở zalo ra, bạn thấy một lời chúc, một giỏ hoa hay một vài điều chọc vui tếu táo của nhóm bạn, có thể bạn không thích, thậm chí bạn chẳng thèm phản hồi, ủng hộ một lời cám ơn, bạn chỉ vô cảm coi như không có gì. Nhưng thực chất, bạn vẫn còn rất may mắn, vì “có bạn bè” nhớ đến mình.

Đừng kêu ca phàn nàn vì những điều khó chịu. HÃY CẢM ƠN CUỘC ĐỜI đã cho Ta mọi thứ.


Thư của cha

Đây là một lá thư riêng của Ông Tôn Vận Tuyền, Viện trưởng viên Quốc Gia Hành Chánh, một chánh khách nổi tiếng Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) gởi cho các con của ông lúc ông còn sống.

Các Con thân mến,

Viết những điều căn dặn nầy, cha dựa trên 3 nguyên tắc như sau:

  1. Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.
  2. Cha là cha của các con, nếu cha không nói ra thì chắc không ai nói với các con những việc này đâu!
  3. Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của bản thân mà cha ghi nhận được, nó sẽ giúp các con tránh được những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.

Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời:

  1. Nếu có người đối xử không tốt với con, đừng để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời nầy, không ai có bổn phận phải đối xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc các con phải biết ơn, trân quý, các con cũng nên thận trọng một chút, vì người đời thường làm việc gì cũng có mục đích của nó, chớ có vội vàng cho là bạn tốt của mình ngay.
  2. Không có người nào mà không thể thay thế được cả, không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu, bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý này, thì sau này trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu, đó cũng không phải là chuyện trời sập.
  3. Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phí thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi! Cho nên, nếu ta càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm, thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng mình cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.
  4. Trên đời này chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chẳng qua chỉ là một cảm xúc nhất thời, cảm giác này, tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nếu người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi lụy vì thất tình.
  5. Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành gì nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó không có nghĩa là không cần học hành cũng sẽ thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, giáo dục là vũ khí trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp với bàn tay trắng, nhưng không thể trong tay không có gì. Nên nhớ kỹ điều này!
  6. Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong quãng đời còn lại của cha sau nầy. Ngược lại, cha cũng không thể bảo bọc quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn bổn phận của cha. Sau này các con có đi xe bus công cộng hay đi xe hơi nhà, các con ăn soup vi cá hay ăn mì gói, đều là trách nhiệm của các con.
  7. Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử tốt với mình. Mình đối xử với người ta như thế nào, không có nghĩa là nguời ta sẽ đối xử lại với mình như thế ấy. Nếu không hiểu rõ được điều nầy, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình.
  8. Trong mười mấy, hai mươi năm nay, cha tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều này chứng tỏ muốn giàu có, phải siêng năng làm ăn mới khá được. Trên thế gian này không có cái gì miễn phí cả.
  9. Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp nầy chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân quý khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau. Kiếp sau, dù ta có thương hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu.

(Người dịch: Huynh Trung)


Ly Cà phê trên tường

Tôi ngồi cùng người bạn trong một quán cà phê nổi tiếng tại một thị trấn lân cận của Venice, Ý, thành phố của ánh sáng và nước. Khi chúng tôi thưởng thức cà phê, một người đàn ông bước vào và ngồi xuống chiếc bàn trống bên cạnh chúng tôi. Anh gọi người phục vụ và nói:

– Hai ly cà phê, một ly trên bức tường kia.

Chúng tôi khá quan tâm khi nghe gọi thức uống như thế và quan sát thấy người đàn ông được phục vụ một ly cà phê nhưng trả tiền cho 2 ly.

Khi anh đi khỏi, người phục vụ dán một mảnh giấy lên tường, trên mảnh giấy ấy có ghi hàng chữ “Một Ly Cà Phê”.

Trong lúc chúng tôi còn ngồi đó, hai người đàn ông khác vào quán và gọi 3 ly cà phê, 2 ly trên bàn và 1 ly trên tường. Họ uống 2 ly cà phê nhưng trả tiền cho 3 ly và rời đi. Lần này cũng vậy, người phục vụ làm tương tự, anh dán một mảnh giấy lên tường, trên mảnh giấy ấy có ghi hàng chữ “Một Ly Cà Phê”.

Có điều gì đó làm chúng tôi thấy lạ và khó hiểu. Chúng tôi uống hết cà phê, trả tiền rồi rời đi.

Vài ngày sau, chúng tôi có dịp quay lại quán cà phê này. Trong lúc chúng tôi đang thưởng thức cà phê, một người đàn ông ăn mặc tồi tàn bước vào. Khi anh ngồi xuống ghế, anh nhìn lên tường và nói:

– Một ly cà phê trên tường.

Người phục vụ mang cà phê đến cho anh với sự tôn trọng như thường lệ. Người đàn ông uống cà phê và đi khỏi mà không trả tiền.Chúng tôi ngạc nhiên chứng kiến tất cả sự việc, lúc người phục vụ tháo một mảnh giấy trên tường và bỏ nó vào thùng rác.

Giờ thì chúng tôi không còn ngạc nhiên nữa – sự việc đã rất rõ ràng. Sự tôn trọng tuyệt vời dành cho người nghèo được thể hiện bởi các cư dân ở thị trấn này đã làm đôi mắt chúng tôi đẫm lệ.

Hãy suy ngẫm những điều người đàn ông này mong muốn. Anh bước vào quán cà phê mà không phải hạ thấp lòng tự trọng… Anh không cần xin một ly cà phê miễn phí… không cần hỏi hay biết về người đang cho anh ly cà phê này… anh chỉ nhìn vào bức tường, gọi thức uống, thưởng thức ly cà phê của mình và rời khỏi quán.

Một ý nghĩ thật sự đẹp. Có lẽ đây là bức tường đẹp nhất mà chúng tôi từng nhìn thấy.

(Sưu tầm)


Thời tới cản không kịp

NGUYỄN TRẬT – ĐI THI CHO VUI NHƯNG ÔNG TRỜI CỨ BẮT ĐẬU !!!

Theo sách “Tang thương ngẫu lục”, tại khoa Quý Hợi (1623) thời Hậu Lê, thí sinh Nguyễn Trật mặc dù tên là Trật nhưng đi thi thì trúng không trượt phát nào, đặc biệt đi thi 3 lần đều được bạn chỉ bài, kì thi cuối cùng nộp giấy trắng vẫn đậu tiến sĩ, trở thành trường hợp khoa bảng hy hữu nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam.

Nguyễn Trật lúc trẻ từng đỗ kỳ thi Hương, nhưng sau đó vì tự thấy mình học lực hạn chế nên bỏ ngang, không tiếp tục thi Hội nữa. Sau đó, có một thầy địa lý đi ngang qua làng, đã khuyên Trật nên tiếp tục con đường khoa cử.

Theo lời thầy địa lý, khi triều đình mở khoa thi Hội, Trật tiếp tục đi thi. Dù học không giỏi, nhờ có bạn bè chỉ bài, Trật lần lượt thi đỗ trường nhất, trường nhì và trường ba trong kỳ thi Hội nhưng đến trường thi thứ tư – trường thi cuối cùng trong kỳ thi Hội, bạn bè của Trật thì rớt cmn hết, chỉ có Trật là đậu, và chẳng còn ai chỉ bài cho Trật nữa.

Vì sợ cô đơn nên Trật đi thi mặc kệ đúng sai. Ở trường thi thứ tư, khi đang làm bài, lều bên cạnh Trật có một thí sinh vật vã ôm bụng kêu đau, Trật bỏ thi để cõng thí sinh này đi cấp cứu. Vì bệnh nặng, thí sinh đó qua đời. Trước khi mất, thí sinh ấy lấy quyển thi của mình đang làm gần xong tặng cho Trật: “Đây là bài thi rất đắc ý của tôi nhưng chưa đề tên vào, nay xin tặng ông để đền ơn”. Trật nhận bài thi của người này rồi quay lại trường thi, ký tên mình vào bài rồi nộp. Bài thi ấy cuối cùng được chấm đỗ, Trật tiếp tục bước vào kỳ thi Đình.

Tại kỳ thi Đình, học lực không giỏi, đề thi khó, lại hết quyền trợ giúp, Trật nộp quyển thi không có chữ nào, tưởng đâu là xác định rớt chắc rồi. Thời điểm đó, triều đình đang hỗn loạn khi chúa Trịnh Tùng vừa qua đời. Thế tử Trịnh Tráng dẫn theo vua Lê chạy trốn trong một diễn biến đậm mùi drama và gặp được Trật. Nhờ có công hộ giá, sau khi lên ngôi, chúa Trịnh Tráng đặc cách cho Trật đỗ tiến sĩ của khoa thi năm đó.

Vậy là từ thân phận của một nho sinh học không giỏi, Nguyễn Trật may mắn hết lần này tới lần khác, tên tuổi được lưu danh trên bảng vàng danh giá. Sau này Nguyễn Trật ra làm quan đến chức Công khoa Đô cấp Sự trung, nhờ tính tình hiền lành, thương yêu dân chúng nên Trật được triều đình và người đời rất yêu mến đặt cho cái tên Ông Nghè Nguyệt Viên.

Cụ Trật sinh năm 1573, người làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa) nha. Tên ông hiện nay nằm trên Bia Tiến Sĩ Văn Miếu – Quốc Tự Giám, Hà Nội.


Không có hóa đơn cho tình người

Tại một thành phố lớn… có vị thương gia nọ bận rộn cả ngày vì công việc mệt mỏi ông vào một nhà hàng tự thưởng cho mình bữa tối thịnh soạn.

Khi những món ăn đã được dọn sẵn trên bàn, bất chợt ông nhìn thấy một cậu bé đang nhìn trộm ông qua cửa kính với ánh mắt thèm thuồng, hình ảnh ấy như có gì làm nhói tim ông !

Ông đưa tay vẫy cậu bé, cậu liền bước vội vào theo sau cậu là 1 bé gái nhỏ 2 đứa trẻ nhìn chăm chăm vào những đĩa thức ăn còn nóng hổi mà chẳng cần biết người vừa gọi chúng vào là ai ?

Vị thương gia bảo chúng cứ tự nhiên mà ăn thỏa thích không nói, không cười cả hai ngấu nghiến ăn hết các món ăn trên bàn một cách ngon lành.

Vị thương gia im lặng nhìn hai đứa trẻ ăn đắm đuối và khi chúng rời đi, chúng đã không quên nói lời cám ơn với ông!!!

Cơn đói trong lòng vị thương gia lúc ấy được xua tan một cách lạ kỳ kèm theo một cảm giác khó tả đang lâng lâng trong lòng. Mãi một hồi sau, vị thương gia gọi tiếp các món ăn lần nữa rồi từ từ thưởng thức đến khi gọi thanh toán nhìn tờ hóa đơn không ghi số tiền mà chỉ là một hàng chữ: “Thật đáng tiếc tiệm chúng tôi không in được ” hóa đơn thanh toán cho tình người “ xin chúc ngài mãi luôn hạnh phúc !”

Một giọt nước mắt đã rơi từ vị thương gia, ông quay nhìn người đàn ông đang đứng tại quầy thu ngân rồi gật đầu mỉm cười ông ta đáp lại bằng một nụ cười rạng rỡ…

Vị thương gia đã dùng “Đức” đối xử với người nghèo.

Chủ nhà hàng dùng “Nghĩa” đáp lại “Đức” không biết ai hơn ai ?

Người xưa có câu :
– Ngồi trên đống Cát ai cũng là hiền nhân quân tử.
– Ngồi trên đống Vàng mới biết rõ ai mới là quân tử hiền nhân.

Tình yêu thương luôn đem đến những sự kỳ diệu từ hai phía: “người cho và người nhận.”

Hạnh phúc của tình người là cảm giác bình yên và thật sâu lắng, xóa tan tất cả những khổ đau và bất hạnh của con người.

(Sưu tầm)