
Nhận được lời mời từ Bà WangMo là Chủ Tịch tổ chức The International Tipitaka Chanting Ceremony (ITCC) là đơn vị tổ chức đã sáng lập và tổ chức buổi Lễ Trùng Tụng Tam Tạng hàng năm ở Thánh Địa Bồ Đề Đạo Tràng và nhiều nơi trên toàn thế giới. Bà đã gửi thư mời đích danh nhóm “Cư Sĩ Áo Trắng Sài Gòn” đến tham dự đại lễ trùng tụng Tam Tạng năm nay. Đây là vinh dự chung của nhóm và cũng là niềm hoan hỷ tràn đầy trước khi chuyến hành hương của nhóm đến Tứ Thánh Địa.Trong mười ngày diễn ra lễ hội, các thành viên thuộc tăng đoàn quốc tế trì tụng kinh điển suốt cả ngày. Buổi tối có thời giảng pháp của các Sư có uy tín chia sẻ giáo lý Phật pháp đến với hội chúng dưới cội Bồ đề.
Chương trình Đại lễ Trì tụng Tam tạng Thánh điển Pali năm nay do Việt Nam làm đại thí chủ đăng cai tổ chức gồm có 11 nước tham dự.
TP.HCM – BANGKOK (22.11.2022)
Tân Sơn Nhất Airport
Lời Ngỏ
Du lịch và Khám phá thế giới là ước mơ của rất nhiều người, đối với những phật tử hoặc bất cứ đạo nào được một lần theo chân của người xưa để tìm về những thánh tích, được nghe chánh pháp và suy tư nội tâm, cũng như cảm nhận được cái thế giơi mà được mô tả trong kinh điển. Xem qua sách vở chỉ là cái cảm nhận và kinh nghiệm của những vị tiền bối đã mô tả lại, điều đó chưa đủ. Chỉ một lần bước ra thế giới mình mới thấy được cái bao la, sự nhỏ bé của mình trong vũ trụ này, biển học vẫn mênh mông và vô tận.
Những tấm hình đẹp, khoảnh khắc vui buồn, đau khổ hay hạnh phúc… cũng sẽ phai nhòa, những công trình vĩ đại rồi cũng lụi tàn theo thời gian. Những khó khăn hay sung sương chỉ là phép đo, ta phải trải qua và phải học ra những gì còn thiếu sót trong kiếp này để nhận ra giá trị thực của nó. Chỉ có sự giác ngộ chân lý mới đem lại kết quả tốt trong kiếp sống này và kiếp sống sau nữa…
Duyên lành, được tham gia cuộc hành trình về đất Phật. Thiết nghĩ mình chưa đủ duyên vì còn quá nhiều đắn đo về vật chất, công việc và bổn phận trách nhiệm với gia đình. Mình không thể ích kỷ chỉ vì ham muốn của bản ngã mà quên đi còn có cha mẹ và gia đình cần phải chăm lo hằng ngày.
Tri ân đến người chị, người anh đã quan tâm và ủng hộ, cám ơn đến người vợ đã chăm lo cái gia đình nhỏ để suốt cuộc hành trình đong đầy ý nghĩa, thiện lành và được hoan hỷ trong thân tâm.
Xin chia đều phần phước báu trong chuyến đi này đến tất cả người thân, bạn bè những người đã không có mặt trong hành trình này.
BANGKOK – GAYA – RAJGIR (23.11.2022)
RAJGIR(24.11.2022)
Để có thời gian thắm viếng, hành thiền và hướng tâm đến vùng đất linh thiên, đoàn khởi hành khá sớm, thông thường sau khi lễ tân khách sạn báo thức lúc 4g30 hoặc 5g sáng thì mọi người có khoảng 30p để dậy chuẩn bị hành trang cho chuyến viếng thắm những điểm thánh tích đã được lên lịch từ trước.
6g -7g thời gian ăn sáng và chuẩn bị khởi hành đi đến điểm đầu tiên trong hành trình là tháp Hòa Bình. Vì thời gian quá sớm nên phòng vé cáp treo lên tháp Hòa Bình chưa được mở cửa, đoàn lội bộ lên đỉnh núi linh Thứu cùng lối ngã rẽ đi 2 hướng cùng 1 địa điểm thánh tích Linh Thứu và tháp Hòa Bình.
Núi Linh Thứu
Núi Linh Thứu là một trong những ngọn núi cao bao bọc chung quanh thành Vương Xá. Linh Thứu là nơi Đức Phật đã thuyết giảng nhiều bộ kinh quan trọng trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong truyền thuyết Phật giáo, như kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Kinh Đại Bát Nhã…
Tại nơi đây có 1 cái hang. Hang này có một mỏm đá nhô ra như hình của đầu một con rắn, chính nơi đây ngài Xá Lợi Phất thường trú ngụ để thiền định và quản chúng. Từ động của ngài Xá Lợi Phất đi theo con đường ngoằn ngoèo với những nấc thang, tới một mỏm đá hình con chim mỏ nhọn, mặt ngước lên. Có lẽ vì hình dạng này mà núi có tên là “Linh Thứu.”
Nhà lao Bình Xa Vương
Nền nhà tù, nơi A Xà Thế nhốt vua cha Bình Sa Vương
Trên quãng đường đi đến Linh Thứu sơn khoảng 2 km từ tinh xá Trúc Lâm có một bờ tường đá dày 2m, nằm bên trái cách con đường chính chừng 30 m, hình chữ nhật, dài khoảng 100m, rộng độ 70m, đó là nhà tù giam vua Tần Bà Sa La thuở xưa. Từ vị trí này, chúng ta nhìn thấy xa xa thấp thoáng tháp Hòa Bình trên đỉnh Sonagiri và chóp núi Linh Thứu, cách chừng 5 km.
Sử chép rằng: vì còn quá trẻ, tính tình bồng bột nông nổi nên bị sự xúi giục sai trái của Đề Bà Đạt Đa, người dốc lòng hại Phật, thái tử A Xà Thế (Ajatasattu) dùng mọi thủ đoạn để hãm hại vua cha, tức vua Tần Bà Sa La, bằng cách bắt giam vào đại lao và dùng nhiều cực hình bức tử Ngài. Những ngày cuối đời trong ngục thất, đức vua hướng về núi Linh Thứu cầu khẩn đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp tu tập để thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ này. Vì ham mê danh vọng, quyền thế hư ảo, vì chứa đầy tham sân si trong lòng mà con người gian trá lọc lừa, tìm cách hãm hại nhau để vun bồi cho dục vọng và ngã chấp, ngay cả như cha với con cũng không từ nan. Trần gian là bể thành sầu khổ. Sự có mặt của mọi con người trên cuộc đời chỉ nhằm giải quyết “ân oán giang hồ”, cứ thế mà trả vay, vay trả đến kiếp nào cho xong! Vì vậy, khi được đức Thế Tôn từ trên đỉnh Linh Thứu sơn phóng quang, xoa đầu và hiển hiện kim thân thuyết pháp, ông liền đắc quả A Na Hàm, rũ sạch mọi đau buồn và an nhiên đi vào cõi chết. Hoàng hậu Vi Đề Hi, vợ vua Tần Bà Sa La, cũng bị giam lỏng trong ngục thất này, nên bà cầu xin đức Phật chỉ dạy phương pháp tu thoát khỏi cõi ta bà ô trược. Cảm được lời cầu xin của Bà, đức Phật hiện thân thuyết pháp an ủi, giới thiệu thế giới Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà và phương pháp tu vãng sanh về cõi ấy. Điều này đã được ghi chép đầy đủ trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, một trong những bài kinh căn bản của hành giả Tịnh Độ Tông.
Trúc Lâm Tịnh xá
Theo Chú giải kinh Phật tự thuyết (Udāna Aṭṭhakatha), tên gọi của tinh xá và lịch sử của khu vườn được ngài Buddhaghosa giải thích như sau:
Veḷuvana, đó là tên gọi của một tinh xá (Vihāra). Nơi đây có Hương thất , là chỗ trú ngụ trang nghiêm của đức Thế Tôn, bậc Giác Ngộ. Ngoài ra còn có giảng đường, am cốc, đường kinh hành an ổn, sạch sẽ cùng với cổng ra vào sáng lạn. Do được tô điểm bên ngoài với lũy tre bao bọc xung quanh với màu xanh đẹp đẽ, mát mắt, nên được gọi là tinh xá Trúc Lâm.
Có thể nói vai trò của vua Tần Bà Sa La rất lớn đối với việc truyền bá chánh pháp, là chỗ dựa vững chắc để làm nền tảng phát triển Phật giáo, khi một đạo Phật còn quá non trẻ so với những tôn giáo truyền thống đương thời của Ấn Độ. Nhưng làm cách nào thực hiện được điều đó để có thể đứng vững và làm cho mọi người tin tưởng hướng về, đó là điều trăn trở mà một vị giáo chủ vừa mới ra đời như đức Phật phải suy nghĩ và lo ngại!? Vì thế đức Phật không vội đi truyền bá chánh pháp ngay sau khi giác ngộ mà Ngài đã lưu lại tư duy quán sát bảy tuần lễ xung quanh cội Bồ Đề. Mặc dù đức Phật không thể hiện rõ về đường lối hay phương hướng truyền giáo của mình như một chiến lược, nhưng mọi biểu hiện của Ngài đều được cân nhắc kỹ càng có tính logic hợp lý trong mọi tình huống và trong mọi nơi khi Ngài dừng chân. Vì lẽ đó, mặc dù nhớ rất rõ lời hẹn ước với vua Tần Bà Sa La nhưng đức Phật không vội trở về thành Vương Xá để độ Ông bởi vì Ngài thừa hiểu tâm lý của những người đương quyền không dễ gì bị thuyết phục bởi những lời nói suông mà không có một cái gì để minh chứng. Do đó, việc quyết lòng hóa độ ba anh em Ca Diếp (Kassapa) đạo thờ lửa xứ Ưu Lầu Tần Loa (Uruvela) là một suy nghĩ đúng đắn nhất, có cơ sở tin cậy nhất đối với việc tiếp kiến đại vương nước Ma Kiệt Đà, một cường quốc nhất nhì thời bấy giờ. Bởi vì ba anh Ca Diếp là những người có uy tín lớn, có ảnh hưởng quần chúng rộng rãi trong thành, mà cả vua Tần Ba Sa La cũng để lòng kính nể đến các vị này. Tất cả điều kiện trên đã hội đủ nên cuộc gặp gỡ theo lời hẹn ước đã đem lại lòng tin sâu sắc và sự kính trọng tột độ của nhà vua dành cho đức Thế Tôn. Một nhà khổ hạnh hôm nào, nay trở thành một vị Phật, đầy đủ uy nghiêm cốt cách của bậc thầy trời người, lại thêm tiếp độ một ngàn môn đệ bao gồm ba anh em Ca Diếp chỉ trong thời gian ngắn ngủi thì việc đó ngoài sức tưởng tượng của nhà vua. Sau khi thân hành ra tận ngọ môn tiếp đón, vấn an đức Phật và chúng tăng, vua Tần Bà Sa La thỉnh Phật ngày hôm sau vào hoàng cung thọ trai và chính ông đã phục vụ cho Phật và chúng tăng, một vinh dự mà nhà vua chỉ dành cho đức Phật. Ngay bữa ngọ trai hôm đó, vua tuyên bố cúng dường ngự hoa viên Trúc Lâm (Veluvana), một khu rừng trúc xinh đẹp thoáng mát cho đức Phật làm nơi lưu trú tu hành. Tại khu rừng trúc này, một ngôi tinh xá được xây dựng, và nó cũng là ngôi tinh xá đầu tiên khởi nguồn cho lịch sử tự viện Phật giáo phát triển mãi đến sau này. Được sử ghi chép rằng, ngôi tinh xá rất là khang trang, rộng lớn, trong đó bao gồm nhiều phòng ốc, giảng đường và các tiện nghi sinh hoạt khác khảm đủ cả chục ngàn người. Tại ngôi tinh xá này, đức Phật đã trải qua mùa an cư thứ hai và nhiều mùa an cư khác nữa, và Ngài đã thuyết nhiều bài kinh quan trọng được ghi lại trong Trung Bộ kinh như: Kinh Vương Tử, Đại Kinh Vacchagotta, Kinh Thiện Sanh Ưu Đà Di …
Hương thất ngài Huyền Trang
Cao tăng Huyền Trang bắt đầu chuyến hành hương đến Ấn Độ – quê hương của Phật giáo – vào năm Công nguyên 627. Ông đã ở lại đây 13 năm, kể cả 5 năm theo học tại Nalanda. Ông đã thỉnh về nhiều kinh điển Phật giáo và dịch sang tiếng Hán, xây dựng nền tảng cho Phật giáo Trung Hoa. Ngài còn để lại cho hậu thế nguồn tài liệu vô song về địa lý, xã hội và tập quán của miền Trung Á và Ấn Độ. Tập chí này mang tên là Đại Đường Tây vực ký….
Sau khi phiên dịch tổng cộng 75 bộ Kinh chữ Phạn, gồm 1.335 quyển, Ngài Huyền Trang nhận thấy sức lực mình đến đây đã suy nhược lắm rồi, và ngày từ giã cõi đời cũng không còn bao lâu nữa. Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, Pháp Sư Huyền Trang gác bút ngàn thu tại chùa Ngọc Hoa. Sắc mặt Ngài vẫn hồng hào và nét mặt Ngài phản chiếu một niềm hoan lạc vô biên. Thọ 69 tuổi. Nghe tin Ngài mất, Vua Ðường Cao Tông không cầm được nước mắt, bãi triều ba ngày và nói với các quan cận thần:
“Trẫm nay mất một quốc bảo!”
Lễ an táng của Ngài cử hành vào ngày 14 tháng 4 tại Bạch Lộc Nguyên, với sự tham dự hơn 1 triệu người ở Tràng An và các miền phụ cận. Từ xưa đến nay chưa có vị Vua nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này.
Phê tích Nalanda
Nālandā là tên của một trường đại học xưa cổ tại tiểu bang Bihar, India. Nalanda nằm cách thủ phủ Patna của Bihar 88km(55 dặm) về phía đông nam, là trung tâm giáo dục của Phật giáo vào năm 427 đến 1197 sau công nguyên. Nó được coi là đại học lớn đầu tiên như lịch sử còn biết được.
Theo các sử gia, Nalanda phồn thịnh vào giữa những năm 427 và 1197 sau công nguyên, chủ yếu dưới sự giám sát của những vị vua theo Phật giáo như Harsha và các vị vua của đế chế Pandyan và đế chế Pala. Sự hình thành của Nalanda chính xác vào thời điểm nào thì chưa được xác định. Căn cứ theo tiểu sử của Long Thọ (Nagajuna) sinh năm 150 sau công nguyên, xuất gia năm 7 tuổi tại Nalanda, thì đại học Nalanda phải có vào thế kỉ thứ hai hoặc ít ra tại nơi đây đã từng là một tu viện rất lớn. Phế tích của đại học Nalanda chiếm diện tích khoảng 14 hectares. Viện đại học này xây hoàn toàn bằng gạch đỏ. Vào thời hưng thịnh, Nalanda có khoảng 10 ngàn tu sĩ học viên và 2 ngàn giáo sư. Nalanda đã cuốn hút các học giả và học viên khắp nơi trên thế giới như Trung quốc, Hy Lạp, Ba Tư, Đại Hàn, Nhật bản, Tây Tạng v.v….Vào thời của Mañjuśrīmitra, chương trình dạy ở Nalanda bao gồm hầu hết các lĩnh vực Phật giáo, Ấn giáo, tâm linh, thế tục, trong nước và ngoài nước. Đại học Nalanda dạy đủ các môn khoa học, thiên văn, luận lý, y học để ứng dụng vào siêu hình học, triết học Samkhya [1], kiến thức yoga, kinh Veda, kinh Phật giáo. Ngoài ra học viên cũng được học các triết lý từ các nước ngoài Ấn Độ.
Năm 1193 Nalanda bị phá hủy bởi đoàn quân Thổ Nhĩ Kì do tướng Bakhtiya Khilji cầm đầu. Các học giả coi đây là thời điểm mốc đánh dấu chính thức sự suy tàn của đạo Phật tại Ấn Độ. Sử gia BaTư Minhaj trong tài liệu the Tabaquat-l-Nasiri mô tả rằng có đến hằng ngàn tu sĩ Phật giáo đã bị thiêu sống và hàng ngàn người khác bị chặt đầu, khi Khilji nổ lực nhổ tận gốc Phật giáo để ươm trồng Đạo Hồi giáo (Islam)tại đây bằng sức mạnh thanh kiếm! Các thư viện kinh sách đã cháy trong nhiều tháng. Khói đã làm tối đen các ngọn đồi thấp chung quanh Nalanda.Viện trưởng cuối cùng của Nalanda là Shakyashribhadra năm 1204 đã chạy trốn về Tây Tạng theo lời mời của dịch giả Tây TạngTropu Lotsawa. Tại Tây Tạng ông đã truyền thừa dòng tu Mulasarvativadin.
RAJGIR – VAISHALI(25.11.2022)
Trụ đá vua Asoka
Một trong những biểu tượng nổi bật nhất của vua Asoka phổ biến ở Ấn Độ ngày nay là trụ đá có bốn sư tử.
Trụ đá Asoka có bốn sư tử được vua Asoka cho khắc dựng làm kỷ niệm tại thánh địa, nơi Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên và tăng đoàn đầu tiên được thành lập, khi nhà vua đến viếng thánh tích này. Trụ đá này cao 50 feet (15.24 mét). Trên trụ đá có khắc chỉ dụ của vua Asoka rằng “không ai được gây chia rẽ trong tăng đoàn”. Nét đặc biệt của trụ đá Asoka ở Sarnath là trụ đá có đầu trụ là bốn sư tử dựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt của trụ ngắn này có bốn bánh xe chuyển pháp luân, mỗi bánh xe gồm 24 căm, đặt xen kẽ với bốn con vật xung quanh: một con voi, một con bò đực, một con ngựa và một con sư tử. Tiếp nối với đoạn hình trụ là đế bán cầu hình hoa sen dốc ngược xuống.
Bốn con vật trên trụ đá bốn sư tử tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật.
- Voi tượng trưng cho ý niệm về giấc mơ của hoàng hậu Maya, mẹ của thái tử Tất Đạt Đa (sau này là Đức Phật), Bà nằm mộng thấy con voi trắng chui vào bên hông phải, rồi Bà thọ thai thái tử.
- Con bò đực là tượng trưng cho sự sung mãn hạnh phúc khi Đức Phật còn là một thái tử sống trong hoàng cung.
- Con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm đường giải thoát khỏi khổ đau cho nhân loại. Đêm vượt thành xuất gia, thái tử ra đi trên một con ngựa.
- Con sư tử tượng trưng cho cuộc đời hành đạo viên mãn của Đức Phật. Pháp Ngài truyền giảng như tiếng rống của sư tử đánh thức bao con người lìa bến mê sang bờ giác. Bốn sư tử là biểu tượng cho những nền tảng căn bản của giáo lý Đức Phật dạy về chân lý, trí tuệ, hoà bình, lòng khoan dung và lòng từ bi lan tỏa khắp bốn phương.
Chùa Kiều Đàm Di (chùa Ni Việt Nam)
Chùa Kiều Đàm Di Việt Nam tại Vaishali, tiểu bang Bihar do Ni trưởng Thích Nữ Khiết Minh sáng lập nhằm tỏ lòng hiếu đạo đối với Tổ sư Ni Kiều Đàm Di. Ni trưởng tâm nguyện xây dựng ngôi chùa Ni và bảo tháp để thờ Tổ sư Ni và chư Thánh Ni tại Vaishali, nơi các chuyên gia khảo cổ đã tìm ra di tích đức Phật độ cho Tổ sư Ni Kiều Đàm Di cùng 500 người nữ dòng Sakya xuất gia.
Khi Đoàn chúng tôi thăm viếng, ngôi Chùa vẫn tiếp tục xây dựng.
Tháp Xá lơi Phật
RAJGIR – KUSHINARA (26.11.2022)
Thánh tích Kushinagar – Bảo tháp Kesariya
Nơi đức Phật để lại Y Bát cho dân làng tại đây trên đường từ Vaishali về Câu Thi Na(nơi Đức Phật nhập Vô Dư Niết Bàn.
Sau khi đức Phật nhập niết bàn, kim thân của Ngài được hỏa táng theo nghi thức tang lễ của một vị chuyển luân Thánh vương. Sau lễ hỏa táng, để tránh sự xung đột tranh giành xá lợi của đức Phật, bộ tộc Malla tại Kushinagar đã đồng ý chia xá lợi Ngài làm tám phần đều nhau cho tám vị quốc vương trong tám nước xây tháp cúng dường. Bộ tộc Malla cũng xây một bảo tháp tại nơi lễ Trà tỳ của đức Phật để phụng thờ tro than lúc hỏa táng còn lại. Nơi đức Phật nhập niết bàn, Kushinagar đã trở thành một trong bốn thánh tích thiêng liêng nhất của Phật giáo (Lumbini, Bodhgaya, Sarnath và Kushinagar).
Đền Đại Niết Bàn
Tháp niết bàn được xây tại thánh tích này để tôn thờ xá lợi của đức Phật, đồng thời để kỉ niệm nơi đức Phật đã xả bỏ báo thân sanh diệt, an trú vào niết bàn bất diệt. Gần mười thế kỉ trôi qua kể từ thời vua Asoka, đến thế kỉ thứ bảy, ngài Huyền Trang đến chiêm bái thánh tích này thì bảo tháp niết bàn vẫn còn và ngài đã ghi chép trong cuốn kí sự của mình: “Về phía Tây Bắc của thành này khoảng 3 đến bốn dặm, băng qua dòng sông Ajitavati (A-tỳ-ba-phạt-để), không xa về phía tây của bờ sông này, chúng ta đến một rừng cây Ta La. Cây Ta La giống như cây Huk, vỏ cây màu trắng xanh, lá cây lóng lánh và trơn dịu. Chổ này có bốn cây thật cao, đây là nơi đức Như Lai đã nhập niết bàn, tại đây có tinh xá bằng gạch rất lớn. Trong tinh xá này có một tượng đức Phật nhập niết bàn, Ngài nằm quay đầu về hướng bắc như đang ngủ. Bên cạnh tinh xá này là bảo tháp do vua Asoka xây dựng, mặc dù đã hư sụp, nhưng cũng còn cao gần 60 mét”.
KUSHINARA – LUMBINI(27.11.2022)
Chùa WAT Thái Lan
Quảng đường dài di chuyển từ Ấn độ sang Nepal, đây là điểm viếng thăm rất đúng lúc trai tăng cho 2 vị sư Pháp Trí và sư Wichai, sau đó đảnh lễ sư trưởng tại chùa.
Suốt hành trình đi xe, thì đây là điểm dừng chân rất thú vị, Nhìn bề ngoài không có ấn tượng mấy vì vị trí chùa nằm bên lề quốc lộ, mặt tiền khá nhỏ cùng với ổn ào tấp nập của dòng xe cộ qua lại vì gần biên giới Ấn Độ – Nepal. Nhưng bước vào bên trong không gian thật mát mẽ yên tĩnh và sạch sẽ, có quán ăn, shop tự phục vụ, còn cả trạm y tế, nhà vệ sinh ở đây rất sạch sẽ.
Tháp Trà Tỳ
Tháp Trà Tỳ (Ramabhar Stupa): Tháp tọa lạc bên hồ Ramabhar, là nơi hỏa táng kim thân đức Phật và chia Xá lợi thành tám phần.
LUMBINI (28.11.2022)
Lâm Tỳ Ni – Nơi Đức Phật đản sanh
Lâm Tỳ Ni là một trong bốn thánh tích được xem như quan trọng nhất của Phật giáo, gọi là tứ động tâm. Tứ động tâm gồm:
- Lâm Tỳ Ni thuộc Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu)
- Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) thuộc Ma Kiệt Đà (Magadha)
- Vườn Lộc Uyển nơi chuyển pháp luân xứ Ba La Nại (Benares)
- Câu Thi Na (Kushinagar) thuộc cộng hòa Malla (bang Bihar ngày nay)
Nơi đức Phật nhập Vô Dư Niết Bàn. Bốn thánh tích trọng đại này được cô đọng trong bốn câu rất dễ nhớ:
“Đản sanh Ca Tỳ La
Thành đạo Ma Kiệt Đà
Thuyết pháp Ba La Nại
Niết Bàn Câu Thi Na”.
Lâm Tỳ Ni, phạn ngữ là Lumbini, xưa kia là khu vườn xinh đẹp của kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Hiện nay vị trí khu vườn này nằm trên phần đất của Nepal, tiếp giáp biên giới, chỉ cách Ấn Độ khoảng 30 Km. Lâm Tỳ Ni , nơi đản sinh một Đức Phật, nằm dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn, các sách thường ghi cách thành Ca Tỳ La Vệ cũ khoảng 15 km.
Du khách chỉ được chụp ảnh bên ngoài khuôn viên, còn bên trong không được phép sd điện thoại , máy ảnh, camera… nên đoàn không lưu lại được những dấu tích nới Đức Phật đản sinh, bước chân chào đời đầu tiên và nhiều di chỉ khác đã được vua Asoka đánh dấu hơn 2300 năm trước và được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1997.
Tháp Hòa Bình
Chùa Nhật Bản là “tháp hòa bình” xây ở nhiều nơi, là tòa tháp tam cấp, ba góc có tượng của “tam thế Phật”. Đây không phải là nơi hành lễ mà chỉ để thăm quan, còn hành lễ ở tòa nhà nhỏ bên ngoài.
Thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu)
Cách Lâm Tỳ Ni (Lumbinī) 25 km về phía Ấn Độ, địa phận Piprahwa, có một kinh thành của dòng họ Thích Ca. Người ta cho rằng, Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) này được xây dựng là do nhóm người Thích Ca sống sót di dời đến nơi này và lập nên một kinh thành Ca Tỳ La Vệ mới. Thành Ca Tỳ La Vệ tại Ấn Độ thuộc bang Uttar Pradesh cũng hoang tàn đổ nát không khác chi thành Ca Tỳ La Vệ ở Nepal.
Công việc khai quật tìm lại những di chỉ có niên đại hơn 2600 năm kéo dài nhiều năm và cả nhiều thế hệ.
Dựa trên những ghi chép của ngài Huyền Trang để lại, người ta vẫn tiếp tục tìm kiếm hàng ngàn tu viện do vua Asoka đã xây dựng xung quanh nơi này…để chấn hưng nền Phật giáo tại nơi đây.
Bảo tháp thờ Maya Hoàng hậu
…Đi theo du khách để xin tiền, vật thực hoặc bất cứ gì có thể xin và sử dụng được. Phải công nhận đi đến nơi về đến chốn, chỉ tiếc rằng nếu tham gia worldcup thì hàng hậu vệ này rất mạnh.
Trước mỗi chuyến hành hương đến những thánh tích, cũng đó được nhắc nhở về hiện trạng người ăn xin, đang update…
Hoàng hậu Maya (Māyādevī) là vợ của vua Tịnh Phạn, là mẹ đẻ của Phật Thích Ca và là chị gái của Mahà Pajàpati (Mahāpajāpatī Gotamī) – nữ tăng đầu tiên.Theo truyền thuyết trong đạo Phật thì hoàng hậu Maya qua đời sau khi sinh ra Tất-đạt-đa Cồ-đàm được 7 ngày, và tái sinh vào cõi trời. Vì vậy, người em gái Mahà Pajàpati đã nuôi con của chị.
Kinh Bản Sinh (Jataka) ghi về nhân duyên làm thân mẫu Phật của bà Maya như sau: cách đây 91 đại kiếp Trái đất, đã có 1 vị Phật tên là Vipassī (Phật Tỳ Bà Thi) ra đời. Có một công chúa đã cúng dường Phật Tỳ Bà Thi với lòng chí thành và ước nguyện rằng trong tương lai, cô sẽ được làm mẹ của 1 vị Phật. Phật Tỳ Bà Thi đã thọ ký cho cô sẽ được như nguyện. Công chúa đó chính là tiền kiếp của hoàng hậu Maya.
- Đức Phật Kakusandha (Câu-Lưu-Tôn)
- Konagamana (Câu-Na-Hàm)
- Kassapa (Ca-Diếp)
- Đức Phật Cồ-Đàm (Gotama) hay Phật Thích Ca Mâu-Ni (Sakyamuni).
- Đức Phật thứ năm là Đức Phật Di Lặc (Mettaya), chưa xuất hiện trong đại kiếp này.
Trụ đá vua Asoka đánh dấu vị trí Phật
Vị trí Phật thứ 1
Vị trí Phật thứ 2
Sư Ven. Panaratana Thero – Nepal
LUMBINI – SRAVASTI (29.11.2022)
Nền tháp ngài Trưởng giả cấp cô độc
Cấp Cô Độc (Anathapindika) là vị đại thí chủ (dayaka) quan trọng nhất thời Đức Phật còn tại thế. Tên tộc của ông là Sudatta (Tu-đạt). Về sau, do lòng quảng đại vô song của ông, người đời tặng ông danh hiệu Anathapindika, có nghĩa là “nuôi ăn những người không được giúp đỡ”, hay “trợ cấp những kẻ cô đơn hiu quạnh”. Savatthi (Xá Vệ) là nơi chôn nhau cắt rốn của ông.
Chuyện kể rằng khi Trưởng giả Tu đạt tìm đất để cất tịnh xá, ông đã nhìn thấy một khu vườn có đất đai bằng phẳng cây cối tươi tốt, và khi hỏi thăm chủ nhân của khu vườn này thì ông biết đó là Lâm viên Kỳ Thọ của Thái tử Kỳ-đà, con vua Ba-tư-nặc. Trưởng giả Tu-đạt muốn mua lại vùng đất này (ước tính khoảng 100 mẫu) để xây dựng Tịnh xá cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Thái tử ra điều kiện, nếu Tu-đạt có thể đem vàng ròng rải khắp mặt đất Lâm viên thì thái tử sẽ bán cho. Tu-đạt y lời, đem vàng trải khắp Lâm viên khiến cho thái tử Kỳ-đà cảm nhận được thành tâm của ông, nên thái tử đã phát tâm cúng dường toàn bộ cây trong Lâm viên để cả hai người cùng kiến tạo Tịnh xá. Vì lý do này mà Tịnh xá có tên là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
Nền tháp ngài Vô Ngã (Angulimala)
Thuở xa xưa có một chàng trai con của một vị Bà la môn (giai cấp “tu sĩ” cao nhất ở Ấn Độ) sống dưới triều đại vua Pasenadi, thuộc vương quốc Kosala. Tên của chàng là Ahimsaka (người thất bại). Chàng được gởi đến thành phố Taxila để học hành. Ahimsaka rất thông minh và biết vâng lời thầy, nên chàng được cả thầy lẫn bà vợ thầy yêu mến. Điều này đã khiến cho các học viên các ganh tị với chàng. Vì thế họ tìm đến thầy giáo và vu cáo Ahimsaka có mối quan hệ bất chính trái đạo lý với bà vợ thầy. Thoạt tiên, không thầy không tin họ; nhưng sau khi nghe điều đó nhiều lần, ông nghĩ rằng đó là sự thật và thề sẽ trả thù Ahimsaka. Ông thầy nghĩ rằng việc giết học trò sẽ gây tai tiếng ảnh hưởng xấu cho ông. Cơn giận dữ thúc giục ông đề nghị một việc không thể tưởng tượng nổ đối với chàng thanh niên Ahimsaka trẻ tuổi và ngây thơ kia. Ông ta bảo cậu học trò phải giết một ngàn người và mang về ngón tay cái từng người để trả học phí về việc dạy chàng. Cố nhiên chàng thanh niên không muốn nghĩ đến một việc kinh khủng như vậy. Vì thế chàng đã bị tống cổ ra khỏi nhà thầy và trở về với gia đình cha mẹ.
Khi cha chàng biết được tại sao Ahimsaka đã bị đuổi, ông ta vô cùng tức giận đứa con mình và không chịu nghe lời giải thích lý do. Cũng chính trong ngày ấy, đang lúc trời đổ mưa xuống như trút nước, người cha ra lệnh Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka chạy đến mẹ chàng và xin lời khuyên. Nhưng bà không thể chống lại quyết định của chồng. Sau đó Ahimsaka tìm đến nhà vị hôn thê của chàng (theo cổ tục hứa hôn từ lâu trước khi đi đến hôn nhân thực sự ở Ấn Độ). Nhưng khi gia đình này biết lý do Ahimsaka bị đuổi ra khỏi trường, họ cũng xua đuổi chàng. Nỗi ô nhục, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của Ahimsaka đã làm cho chàng điên tiết lên. Trong nỗi đau đớn cùng cực đó, đầu óc của chàng chỉ nhớ lại mệnh lệnh khắc nghiệt của thầy: góp nhặt một ngàn ngón tay người. Và vì thế mà chàng bắt đầu lao vào cuộc chém giết hại như vậy, những ngón tay góp nhặt được chàng treo chúng lên cành cây. Nhưng chúng bị bầy quạ và diếu hâu phá hoại, sau đó chàng đã mang một vòng ngón tay để theo dõi số lượng.
Cũng vì điều này mà y dần dần được biết qua cái tên Angulimala (người đeo vòng ngón tay) và trở thành nổi hãi hùng cho vùng nông thôn này. Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của Angulimala và ra lệnh bắt y. Khi bà Mantani, mẹ của Ahimsaka, biết được ý định của vua, bà đi vào trong rừng với những nỗ lực tuyệt vọng để cứu con của bà. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala có một ngón là đủ một ngàn.
Đức phật biết được nỗ lực ngăn cản của người mẹ đối với con bà và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp vào thì Angulimala, đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số một ngàn, sẽ gặp mẹ mình và y có thể giết bà. Trong trường hợp đó, y sẽ chịu đau khổ còn lâu dài hơn nữa vì nghiệp ác của mình. Do lòng bi mẫn, Đức Phật đi đến khu rừng kia.
Sau nhiều ngày đêm mất ngủ, Angulimala rất mệt và gần như kiệt sức, y rất nôn nóng tìm cách giết người cuối cùng để đủ số lượng một ngàn và hoàn tất phận sự của mình, y quyết giết người đầu tiên mà mình gặp. Khi nhìn xuống từ nơi ẩn mình trong núi, y thấy một người đàn bà trên con đường phía dưới. Y muốn làm trọn lời thề của mình để có đủ một ngàn ngón tay, nhưng khi đến gần, y nhìn thấy người đó chíng là mẹ mình. Lúc ấy, Đức Phật cũng đang đi tới, và Angulimala liền định thần quyết giết chết người du sĩ kia để thay cho mẹ mình. Y liền vung dao bắt đầu đi theo Đức thế Tôn. Nhưng Đức Phật vẫn di chuyển trước mặt y. Angulimala không thể đuổi kịp được Ngài. Cuối cùng, y quát lên: “Này, khất sĩ kia, hãy đứng lại ! Đứng lại !”, và đấng Giác Ngộ trả lời: “Ta đã đứng lại từ lâu, chính ngươi mới là người chưa dừng lại thôi !” Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì thế y lại hỏi: “Này khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại còn tôi vẫn chưa dừng ?”
Nghe qua những lời này, Angulimala như được nhắc nhở thực tại và suy nghĩ, đây là những lời của một bậc hiền nhân. Vị khất sĩ này hiền thiện và rất mực dũng cảm như thế chắc hẳn vị này là một nhà lãnh đạo các khất sĩ . Quả thực, chính Ngài hẳn là đấng Giác Ngộ rồi đây. Hẳn ngài đến đây chỉ vì mục đích làm cho mình thấy được ánh sáng. Suy nghĩ như vậy, y ném vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận y vào giáo đoàn khất sĩ, Đức Phật đã chấp thuận việc ấy.
Khi đức vua và quân lính đến bắt Angulimala, họ thấy người ấy đang ở trong Tịnh xá của Đức Phật. Biết rằng Angulimala đã từ bỏ ác đạo của mình và trở thành một vị tỳ kheo, vua và quần thần đều đồng ý để yên vị này. Suốt thời gian Angulimala nhiệt tâm thực hành thiền định.
Tôn giả Angulimala vẫn không được an tâm vì ngay cả trong lúc thiền định tĩnh lặng, Tôn giả thường nhớ lại quá khứ cùng với những tiếng gào thét thê thảm của những nạn nhân bất hạnh. Do một quả báo vì ác nghiệp kia, trong lúc đi khất thực trên đường phố, Tôn giả đã trở thành mục tiêu của đủ thứ gậy, đá ném vào và thường trở về Tịnh xá vỡ đầu chảy máu, đầy vết thương bầm tím, rồi lại được Đức Phật nhắc nhở: “Này pháp tử Angulimala, con đã từ bỏ việc ác, hãy kham nhẫn lên. Đây là hậu quả của ác nghiệp mà con đã gây tạo ở đời này. Đáng lẽ ra ác nghiệp sẽ còn làm con khổ đau qua vô lượng kiếp nếu trước đây ta đã không gặp con”.
Mọt buổi sáng, trong lúc đang trên đường đi khất thực ở thành Savatthi, Tôn giả Angulimala nghe tiếng ai đang kêu khóc đau đớn. Khi Tôn giả biết đó là một thai phụ đang đau vì chuyển dạ và gặp khó khăn lúc sanh con. Tôn giả suy nghĩ tất cả chúng sanh trên thế gian này đều phải chịu đau khổ. Động lòng từ, Tôn giả kể lại với Đức Phật nỗi khổ đau của người phụ nữ đáng thương kia. Ngài đã khuyên Tôn giả nói lên những lời thề chân thật, lời đó về sau này có tên là Anggulimala Paritta (thần chú hộ mệnh Angulimala). Đi đến trước mặt người sản phụ đang chịu đau đớn kia, Tôn giả ngồi xuống cách bà ấy một tấm màn che và phát nguyện những lời sau: ” Này chị, từ ngày tôi đắc quả A la hán, Tôi chưa từng cố ý sát hại mạng sống của sinh linh nào. Nhờ sự thật này, cầu cho chị được an lành và đứa bé sắp sanh của chị cũng được an lành”.
Ngay lập tức người sản phụ liền sanh con một cách dễ dàng. Cả mẹ lẫn con đều được khẻo mạnh. Cho đến nay nhiều người vẫn dùng đến thần chú hộ mệnh này.
Tôn giả Angulimala thích sống độc cư và biệt lập. Sau đó Tôn giả viên tịch một cách yên bình. Là một vị A la hán, Tôn giả chứng đắc Vô dư Niết bàn.
Các Tỳ kheo thỉnh ý Đức Phật về nơi tôn giả Angulimala tái sanh, và khi Đức Thế Tôn đáp pháp tử Angulimala đã chứng đắc Vô dư Niết bàn, thì chư vị không thể tin điều đó. Vì thế chư vị lại hỏi liều có thể nào một người đã giết quá chứng đắc Niết bàn Vô dư y chăng. Trước câu hỏi này, Đức Phật đáp: “Này các Tỳ kheo, Angulimala đã tạo quá nhiều ác nghiệp, vì vị ấy không có đã tìm được nhiều thiện hữu tri thức và nhờ sự giúp đỡ cũng như lời khuyên tốt mà vị ấy đã trở nên kiên định và chuyên tâm thực hành giáo pháp và thiền định. Như vậy, nghiệp ác của vị ấy đã được thiện nghiệp lấn át che phủ và tâm của vị ấy đã hoàn toàn đoạn trừ cả lậu hoặc. Đức Phật lại nói về tôn giả Angulimala:
“Ai dùng các hạnh lànhXoá mờ bao nghiệp ác
Chiếu sáng cõi đời này
Như trăng thoát khỏi mây”
Sức mạnh của lòng từ bi bao giờ cũng mạnh hơn bất cứ ác nghiệp nào. Và đó cũng là điều kiện tuyệt đối để giác ngộ.
Thích Nguyên Tạng
(dịch từ tập sách Love in Buddhism/Taiwan/1990)
Tịnh xá Đức Phật hành thiền ngự tại thành Rajagaha
Vua Tịnh Phạn Muốn Gặp Đức Phật
Hay tin Đức Phật đang ngự tại thành Rajagaha (Vương Xá) và đang truyền bá Giáo Pháp, Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) càng nóng lòng muốn gặp người con trí tuệ. Chín lần liên tiếp, đức vua truyền lệnh cho chín vị sứ thần đến triệu thỉnh Đức Phật về Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ). Trái ngược với lòng ước mong chờ đợi của vua, khi gặp được Đức Phật, tất cả chín vị sứ thần đều lấy làm thỏa thích, ở lại nghe Pháp, xin xuất gia, và đắc Quả A La Hán. Khi đã đắc Quả A La Hán các Ngài không còn thiết tha đến việc trần gian nên không nghĩ đến sứ mạng là thỉnh Đức Phật về. Đức vua lấy làm thất vọng. Sau cùng, Ngài truyền lệnh cho người tôi trung thần, Kaludayi, vốn là bạn thân của Đức Phật lúc còn là Thái Tử Siddhattha (Sĩ Đạt Ta), đi thỉnh Đức Phật. Kaludayi phụng mạng nhưng xin một điều là cho phép ông xuất gia theo Phật.
Như các vị sứ thần trước, Kaludayi cũng được diễm phúc nghe Đức Phật thuyết giảng Giáo Pháp, đắc Quả A La Hán và xin xuất gia. Nhưng khác với các vị kia là ông không quên sứ mạng. Ông thiết tha khẩn cầu Đức Phật về thăm phụ hoàng, nay đã già yếu. Lúc ấy nhằm mùa khô ráo, có thể đi đó đây dễ dàng, Đức Phật lên đường trở về quê nhà với rất đông đệ tử. Trên con đường dài từ Rajagaha (Vương Xá) đến Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), Ngài chia từng chặng ngắn, vừa đi vừa thuyết Pháp, hai tháng sau đã đến nơi.
Mọi việc đã được chuẩn bị để Đức Phật ngự tại huê viên của Hoàng Thân Nigrodha, dòng Sakya (Thích Ca). Khi Đức Phật đến nơi, các vị cao niên ngã mạn dòng Thích Ca nghĩ rằng: “Vị đạo sĩ kia chẳng qua là em, cháu của chúng ta, nên bảo các người trẻ tuổi chào đón đạo sĩ, chúng ta sẽ ở phía sau, và ngồi yên một chỗ, không đảnh lễ Đức Phật”. Để khắc phục tánh kiêu căng và cảm hóa các vị cao niên trong hoàng tộc, Đức Phật bay lên giữa lừng trời và dùng thần thông, hóa phép Yamaka Patihariya, “đôi thần thông lực”, làm cho nước và lửa cùng một lúc phát sanh ra từ lỗ chân lông.
Thấy oai lực thần thông của Đức Phật, Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) đến đảnh lễ Ngài và nói rằng đây là sự đảnh lễ lần thứ ba
Tất cả các vị hoàng thân khác đều noi gương đức vua, cung kính đảnh lễ Phật.
Khi mọi người đảnh lễ xong, Ngài bay xuống và ngồi trên một ghế bành cao đã được dọn sẵn. Tất cả hoàng thân quốc thích đều khiêm tốn ngồi lại xung quanh, im lặng lắng nghe Đức Phật giảng.
Vừa lúc ấy, một trận mưa bất ngờ rơi xuống, gây nên những lời bàn tán sôi nổi giữa các vị hoàng thân về hiện tượng kỳ lạ ấy.
Kế đó, Đức Phật giảng kinh Vessantara Jataka, dạy rằng trường hợp tương tợ đã xảy ra trong một tiền kiếp, khi Ngài thuyết Pháp trước cử tọa gồm họ hàng thân quyến. Tất cả đều lấy làm thỏa thích.
Nhưng khi chia tay ra về, không ai biết bổn phận là phải cung thỉnh Đức Phật và chư đệ tử về trai tăng. Chính Đức Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) cũng không biết, vì nghĩ rằng, “Nếu Thái tử con ta không về hoàng cung thì còn đi đâu?” nên Ngài trở về cung điện truyền bày yến tiệc và đón chờ Đức Phật.
Nơi Đức Phật hành thiền mùa hạ thứ 9
Đông Viên Tịnh Xá. Đây là nền gạch được vua A Dục xây dựng để đánh dâu nơi Đức Phật án trú hai mua hạ tại đây (hạ thứ 9), và cũng từ vị trí này Đức Phật bước lên cung trời đao lợi để hóa độ cho Phật mẫu và thuyết pháp cho chư Thiên. Nơi này đã được chính phủ Ấn độ khai quật vào năm 1958.
Kỳ Viên Tịnh xá
Tịnh xá Kỳ Viên là một trong nhưng ngôi tịnh xá nổi tiếng vào thời Đức Phật, được nhắc nhiều trong kinh sách. Lịch sử hình thành ngôi tịnh xá, gắn liền với vị trưởng giả đầy nhiệt tâm Cấp Cô Độc, đã trở thành một câu chuyện huyền thoại khiến nhiều người biết đến. Chuyện kể rằng khi trưởng giả tìm đất để cất tịnh xá, ông đã nhìn thấy một khu vườn có đất đai bằng phẳng cây cối tươi tốt, và khi hỏi thăm chủ nhân của khu vườn này thì ông biết nó thuộc quyền sở hữu của Thái tử Kỳ-đà (Jeta). Nhưng Thái tử Kỳ-đà vì không muốn bán khu vườn nên mới bảo với trưởng giả rằng nếu ông đem vàng lát kín khu vườn thì thái tử sẽ bán. Ngỡ rằng lời thách đố đó sẽ làm Trưởng giả Cấp Cô Độc bỏ đi dự định, nào ngờ ông đã đem vàng phủ kín khu vườn theo yêu cầu của thái tử và lấy khu vườn về. Điều ấy đã khiến cho thái tử vô cùng ngạc nhiên, và cũng chính sự nhiệt tâm của trưởng giả đã đưa thái tử đến với Đức Phật.
Chùa Tây Tạng
SRAVASTI – VARANSI (30.11.2022)
Vườn Lộc Uyển
Vườn Lộc Uyển Sarnath được biết đến với tên gọi Vườn nai, được xem là thánh địa của Phật giáo và là một trong những điểm hành hương không thể thiếu khi đến thành phố Varanasi. Đây là nơi đức Phật trải qua mùa an cư kiết hạ đầu tiên và cũng là chiếc nôi hình thành Tam bảo giữa thế gian.
Lịch sử Sarnath đã được biết đến từ rất xa xưa, thuở đức Phật Thích-ca còn là vị Bồ-tát hóa thân tu tập trong loài nai nơi khu rừng hoang dã. Sarnath còn được biết đến qua Kinh tạng, đó là nơi thiêng liêng mà chư Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều chọn nơi đây làm chiếc nôi của Phật giáo để khai sinh giáo pháp giác ngộ, cứu khổ độ sanh. Thánh tích Sarnath cũng được biết qua huyền thoại về 500 vị Phật nhập Niết-bàn giữa hư không bỏ lại xác thân tứ đại ở nơi này với bảo tháp tưởng niệm. Sarnath lại được biết sẽ là nơi thiêng liêng đón chào đức Phật Di Lặc chuyển pháp luân, thiết lập Long Hoa hội sau này, vì cũng chính tại thánh địa này, đức Phật Thích-ca đã thọ ký cho Ngài là sẽ thành Phật hiệu là Từ Thị Như Lai.
Chùa Sri Lanka
Một điều may mắn luôn đến với đoàn luôn đến sớm và về trễ , đôi lúc bảo vệ phải đợi đoàn trong chiều tối chỉ còn lại ánh đèn le lói. Tuy nhiên họ vẫn hoan hỷ vì đoàn mình thân thiện nhưng cũng kèm theo cúng dường nhiều.
Chuyến thăm viếng bất chợt, sau khi đảnh lễ và cúng dường trời đã sập tối. Kinh chiều đã đến, đoàn được hoàn hỷ ở lại cùng tham gia nghi lễ tụng kinh suốt 45 phút. May mắn hơn sự mong đợi là được viện trưởng đồng ý cho thành viên đoàn đội xá lợi tử và 1 phần quà nhỏ (dây chỉ đeo tay). Đó là một niềm vinh dự và phước lành không phải đoàn nào cũng được. Tất cả thành viên đoàn đều hoan hỷ. Lành thay !
Viện bảo tàng khảo cổ (Sarnath Archaeological Museum)
Nơi đây là khu vực hạn chế nên không thể chụp hình hoặc quay phim. Link tham khảo
VARANSI – BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG (01.12.2022)
Sông Hằng
Đại lễ rước tam tạng kinh điển lần thứ 17
Bồ đề đạo tràng
Khổ hạnh Lâm
Trải qua hơn 2.500 năm với biết bao dâu bể, những gì còn lại nhắc người ta nhớ về Khổ Hạnh Lâm chỉ là một dãy đồi trơ trọi cháy bỏng như lò than vào mùa Hè. Dãy đồi này cao khoảng 60m và dài chừng 5km. Đứng trên ngọn đồi, tôi có thể nhìn bao quát ngôi làng Bakraur, nơi xưa kia Bồ tát vẫn thường đến khất thực, và dòng Ni Liên Thiền đang vào mùa khô, cạn trơ bãi cát. Bóng dáng của những nhà tu khổ hạnh nay không còn, nhưng cảnh sống cơ cực của người dân Bakraur dường như không khá lên, hay thậm chí còn khốn khó hơn so với mấy nghìn năm về trước, khiến cho cái tên Khổ Hạnh Lâm như càng khắc sâu vào tâm khảm mọi người.
Tại khu rừng này, Bồ tát đã trải qua nhiều giai đoạn tu tập với lối sống khổ hạnh tột đỉnh. “Vì Ta ăn quá ít mỗi ngày, nên cơ thể Ta trở nên hết sức gầy yếu. Tay chân Ta như các lóng tre khô đầy khúc khuỷu. Hai bàn tọa của Ta trở thành giống như móng trâu, xương sống với cột tủy lồi ra trông giống chuỗi hạt. Xương sườn Ta lộ rõ như rui cột của ngôi nhà đổ nát. Ðồng tử của Ta nằm sâu trong hố mắt thăm thẳm long lanh giống như ánh nước long lanh từ dưới giếng sâu. Da đầu Ta khô héo nhăn nheo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng khô héo nhăn nheo. Nếu Ta muốn sờ da bụng thì Ta đụng nhằm xương sống vì hai thứ đã dính sát vào nhau. Nếu Ta muốn đi đại tiện hay tiểu tiện thì Ta ngã úp mặt xuống đất. Nếu Ta chà xát tay chân thì đám lông hư mục rụng xuống trong tay Ta”.
Làng thôn nữ Sujata
Hành trình của đoàn đến đây hơi muộn so với dự tính vì tắt đường gần 1 giờ đồng. Khi đến nơi trời đã sập tối, và địa điểm này đã đóng cửa, tuy nhiên nhờ ngoại giao và phước lành, nhóm quản lý di tích này đã đồng ý cho đoàn vào trong tham quan.
Tuy là trời tối nếu ngày thường thì chắc chắn sẽ không thấy gì ngoài màn đêm với vài ngọn đèn mờ le lói , như có sự sắp đặt trước hoặc được chư thiên gia hộ hay sao mà đoàn lại đến đúng lúc toàn bộ tháp được thắp sáng rất đẹp khi ánh mặt trời đã khuất sau núi. Nghĩ thầm không lẽ biết có đoàn đến tham quan nên họ thắp sáng chăng nhưng cũng không đúng vì họ sử dụng máy phát điện cơ mà, không thể nào đoàn mình lại có vị trí quạn trọng đến như vậy. Không nghĩ nhiều nữa , đi cả quãng đường dài đến được đây mà quay về thì lòng không đành, được vào là mừng rồi lý do gì cũng kệ với lại cũng phải đi vệ sinh nữa chứ. Sau khi về đến khách sạn, có nhiều thời gian mới hỏi anh google biết được Ấn độ vừa trở thành chủ tịch G20.
“Kể từ ngày 1/12, Ấn Độ sẽ giữ chức Chủ tịch G20. Hoa sen, quốc hoa của Ấn Độ trở thành biểu tượng cho G20 năm 2023, với 7 cánh hoa tượng trưng cho 7 lục địa. Với chủ đề “Vasudhaiva kutumbakam – một trái đất, một gia đình, một tương lai”, sự phát triển toàn cầu của G20 sẽ hài hoà với thiên nhiên…”
Với chương trình thắp sáng 100 Đền tháp trong 1 tuần để khai mạc cho G20. Cùng đúng là ngày 1/12 đoàn tham quan thánh tích này. Niềm vui là càng hoan hỷ thêm, trước khi ra về cũng như đây là điểm tham quan cuối của hành trình, được cúng dường ánh sáng, đoàn lại có dịp làm thêm 1 đại thiện phước nữa đó là cúng dường hỗ trợ cho trẻ em học sinh nơi đây có đủ dụng cụ học tập.
Suốt quãng đường về lại khách sạn để nghỉ ngơi cũng như dùng bữa cớm tối vì bụng đã đánh trống, tuy nhiên vì rất nhiều lý do nên đành “thắt lưng buộc bụng” cũng khá lâu… tiếng rộn ràng, cười nói trên xe chia sẽ những khoảnh khắc của mỗi thành viên đoàn cũng như lời dẫn của trưởng đoàn không ngừng giây phút nào. Thế nhưng không câu chuyện gi hoan hỷ hơn việc cả đoàn lại làm thêm đại thiện phước xuất phát một cách tình cờ và tự nhiên. ” vô vi vô ngã, vô ngã vị tha” một lần nữa cảm nhận được cái tinh túy thâm sâu của câu nói trên.
Thôn nữ đã cúng dường cháo sữa cho nhà tu khổ hạnh Tất Đạt Đa. Cứu sống, khơi gợi cho người con đường tu tập khác, để giác ngộ, hoằng dương một trong những tôn giáo lớn trên thế giới đến tận giờ.
BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG – BANGKOK (04.12.2022)
Tạm biệt Bodh Gaya, tạm biệt Ấn Độ… tạm biệt Nagsen Upasak người dẫn đoàn vui tính nhiệt tình từ lúc đón đoàn tại sân bay Gaya Ấn Độ với một vòng hoa thắm thiết nồng nhiệt, vòng hạt chuỗi đeo cổ làm từ gỗ cây Sala, một pho tượng Phật bằng đá tại Varansi (viện bảo tàng khảo cổ) và nhiều cảm xúc, lo lắng mỗi khi có thành viên nào đau ốm. Tuy không có mặt lúc đưa cả đoàn ra phi trường từ Gaya đi đến Bankok vì còn phải chuẩn bị cho một đoàn khác lại tiếp tục cho chuyến hành hương. Những khoảnh khắc tuyệt với, chăm lo cho từng thành viên, từ trang phục, thức ăn nào hợp với khẩu vị Việt Nam, những khoảnh khắc giây phút đó suốt hành trình vẫn luôn còn đọng lại trong tâm trí của mọi người…
BANGKOK – TP.HCM
Không có cái cảm giác vui sướng hơn khi trở về nhà, mái ấm của gia đình sau gần nửa tháng phiêu du đó đây. Lòng lại nghĩ đến thời gian đó vợ con thế nào, về nhà chắc là rửa tai hay có để sẵn ba lô trước nhà không nữa…
Cái cảm giác ngủ tại phi trường quá cảnh sân bay Bankok để về lại TP.HCM cũng thú vị không kém. Thời gian này mỗi người đều tự lo từ chỗ ngủ đến bữa ăn đều tự túc. Xôi xoài(140bat) là món khoái khẩu đã từng được ăn trong chuyển du lịch Thái Lan năm 2018, một lần nữa lại thưởng thức nhưng có khác so với lần trước cái vị không bằng, có lẻ là thế… bụng vẫn rột rạc, làm thêm 1 phần Hamberger bò (150 bat), ổn định bao tử để qua đêm tại đây.
Trong lúc chờ bay, ngồi bên cửa sổ máy bay ngắm lại Thai lan lần nữa rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay, có lẻ tối qua ngủ tại phi trường không quen, giấc ngủ không trọn nên vẫn còn buồn ngủ. Chợt tỉnh lại vì tiếng nói chuyện… tưởng mình đang trên bầu trời, nhưng không, vẫn còn đợi trên đường băng vì lý do gì đó chưa rõ, nhìn đồng hồ đã trôi qua hơn 1 tiếng, 15p sau máy bay cất cánh. Cảm giác nhớ nhà càng thêm nhớ….
Về đến Tân Sơn Nhất tưởng mọi chuyện đã êm, nhưng không… cái lo lắng nhất là hành lý. Thồi rồi thiếu mất một kiện hành lý (của chị Chi) lại phải đợi làm thủ tục gần 1 tiếng nữa. Thế là cái hẹn về nhà với vợ và con coi như xong, thằng nhỏ (Long) nó nhớ ba, cố gắng đợi gặp ba rồi mới đi học. Nó cư hỏi tơi hỏi lui mẹ nó là có chắc là ba về không ? chiều ba có kịp đón con không ?
Mãi đến 1g trưa mới về đến nhà, trễ hơn lịch trình là 11g sẽ có mặt tại nhà để đưa con đi học…!








































































































































































































































































































































































Để lại một bình luận