Home » Blog » Ngo Phat » Xuất gia gieo duyên

Xuất gia gieo duyên

posted in: Ngo Phat 0

Ý nghĩa của Xuất gia gieo Duyên

Việc xuất gia khi đức Phật còn tại thế khác với thời đại chúng ta ngày nay. Khi ngài bắt đầu con đường hoằng pháp sau khi đại giác ngộ rồi, bấy giờ chưa có chùa chiền nhiều nên đức Phạt và các môn đệ cứ du hành từ vùng này sang vùng khác, lấy “màn trời chiếu đất” làm bạn thân thiết với đời sống tu hành. Họ chia thành từng nhóm nhỏ, có thể ở rừng núi hoang vắng, trong nghĩa địa, dưới bóng cây, trong động đá, hoặc bên bờ sông,.. nghĩa là du hành đến đâu thì “thuận đâu nghỉ đấy”. Trong những điều kiện khó khăn bước đầu, chưa có nhiều người – đặc biệt là giới cư sĩ – tín mộ và ủng hộ, thì Phật giáo khi ấy được gọi là Phật giáo du hành. Có thể sau vài chục năm khi Phật giáo phát triển mạnh, có chỗ đứng trong xã hội, thì bấy giờ chùa chiền, các cơ sở tự viện (nơi tu hành của các vị xuất gia) mới bắt đầu được xây dựng lần hồi bởi các vị vua, các vị đại thí chủ, hoặc có nơi do phát tâm của từng nhóm cư dân địa phương. Khi đó bắt đầu bước sang giai đoạn Phật giáo tu viện – tức là có nơi cư trú, có chùa chiền, tự viện như chúng ta gọi ngày nay.

Và đến khi đức Phật viên tịch thì Phật giao phát triển qua một giai đoạn khác. Trước khi đức Phật mất, thì Phật giáo đã đạt đến giai đoạn cường thình, được nhiều người biết đến, được nhiều ủng hộ từ xã hội, khi đó bắt đầu phân ra : Có những vị thích tiếp tục du hành, có những vị thích ở tại một chỗ. Riêng vấn đề an cư nhập hạ là một trong những sinh hoạt quan trọng của người xuất gia, được chế định trong khoảng thời gian sau này. Do tình hình, hoàn cảnh đưa đẩy và tác động nên đức Phật phải đặt ra các qui định trong từng tình huống khác nhau. Tuy nhiên trong thời kỳ đầu thì không có qui định gì, theo sử liệu hoặc luật tạng cho biết đó là vào khoảng mười hai năm đầu tiên sau khi đức Phật thành đạo và truyền bá giáo pháp.

Đời sống xuất gia bấy giờ được đức Phật diễn đạt như thế này : “là một đời sống tự do không ràng buộc, như cánh chim trời cứ bay và kiếm ăn hàng ngày bằng bình bát nuôi thân, rồi tu tập, từ nơi này đến nơi khác” hoặc “đời sống trắng bạch như vỏ ốc”- có nghĩa là không nhuốm màu bôi bẩn bởi các phiền não, tham dục, sân hận. Do không bị trách nhiệm, các mối ràng buộc thế gian cột trói cho nên đời sống đó trong sạch, thanh tịnh. Đó là một trong những điểm thu hút của đời sống xuất gia đối với giới tại gia. Đặc biệt đối với những người đã trải qua nhiều ràng buộc, phiền lụy, đau khổ trong cuộc sống thế tục nên khi được nghe lời dạy của đức Phật, họ đã dũng cảm rời xa gia đình, chọ đời sống không gia đình. Thầy trò đi với nhau từng nhóm, chỗ này qua chỗ khác, tùy nhân duyên vừa độ sinh vừa tu tập; một đời sống như thế quả thực rất tự do và không tạo ra những vấn đề rắc rồi nào cho xã hội.

Nhưng sau khi số lượng các vị tỳ-khưu bắt đầu đông lên, đòi hỏi phải đặt ra các qui định để quản lý vì rõ ràng trong một cộng đồng, từng thành viên trong đó không thể tùy tiện muốn sống sao cũng được, mà phải có nề nếp. Trong giai đoạn đầu, những vị đầu tiên do căn cơ trình độ đến với đạo Phật hoặc đức Phật thấy họ đủ khả năng để có thể điều chỉnh hành vi, luôn có ý thức nói năng, suy nghĩ, hành xử nên đức Phật không phải bận tâm và đặt ra các qui định. Nhưng khi bắt đầu có những hiệ tượng lệch lạc xuất hiện do số lượng ty-khưu quá đông thì đức Phật mới chế ra các qui định, như là : khi sống trong tập thể, cộng đồng thì người xuất gia không được làm cái gì, nên tránh cái gì. Rồi các sinh hoạt về Tăng-già(phiên âm của Sangha, là tổ chức những người xuất gia theo đạo Phật; nghĩa là đoàn thể, hội chúng) khi tiến hành những công việc liên hệ đến tập thể, tổ chức thì phải như thế nào. Lần lượt các qui định đó được chế định, đặt ra, mà sau này người ta gọi là giới và luật.

Căn cứ các sự kiện trên cho thấy lúc sơ khởi giới luật không phải là cái gì mang tính liên hệ mật thiết đến tiến trình giải thoát. Giải thoát hoàn toàn không liên hệ đến cái gì gọi là giới luật, mà nó liên hệ đến nhận thức. Có nhận thức đúng, thì mới có thể có hành vi đúng. Giới luật như được hiểu về sau là các qui ước, chế định lại hành vi sai, xấu, lệch lạc cần được điều chỉnh lại theo hướng đúng, tốt, không hại mình hại người.

Chẳng hạn, vị sa-di đầu tiên xuất hiện trong Phật giao chính là con trai của đức Phật, là hoàng tử Rāhula. Vào dịp đức Phật về thăm quê hương, công nương Da-du-dà-la (Yasodharā) mới bảo con mình tới gặp đức Phật để xin gia sản mà ngài để lại. Thay vì cho gia sản như người thế tục vẫn nghĩ, tức là các hầm châu báu của chìm của nổi, vương vị,… thì đức Phật lại trao tặng cho Rāhula một gia tài cao quí hơn, mà ngài gọi là “thánh sản” – tức là gia sản của bậc giải thoát. Vì đức Phật đã giao Rāhula cho tôn giả Sāriputta làm thầy tế độ, xuống tóc và dạy dỗ chú sa-di này. Khi đó sa-di không có nội dung giới pháp như các vị đọc chiều nay, mà chỉ đọc ba câu thôi :

“Buddham saranam gacchāmi, Dhammam saranam gacchāmi, Sangham saranam gacchāmi  nghĩa là : con xin đặt niềm tin và nương tựa nơi Phật, Pháp, Tăng. “Sa-di” là từ phiên âm của tư sāmanera, nghĩa là : “con của sa-môn”; sa-di là con trai của sa-môn; sa-di-ni là con gái của sa-môn, nghĩa là chỉ cho con người tập sự mới vào tu. Ngài Rāhula xuất gia khi mới bảy tuổi, độ tuổi sau này được qui định là độ tuổi nhỏ nhât được xuất gia trong Phật giáo.

Do đức Phật dẫn ngài Rāhula đi xuất gia mà không nói cho gia đình biết trước cho nên vua Tịnh Phạn rất đau buồn! Về sau, dựa trên cảm xúc không dễ chịu chút nào của bản thân, đức vua mới thỉnh cầu đức Phật, nếu sau này có người nào xuất gia, dù nam hay nữ, mà còn sống chung với cha mẹ, thỉnh cầu Thế Tôn phải có ý kiến của cha mẹ đồng ý. Nếu không, dẫn đi đột ngột quá thì người ta rất đau khổ khi chia lìa người thân. Và đức Phật đã chấp nhận lời thỉnh cầu đó. Cho nên từ đó về sau, các vị xuất gia nào đang sống với cha mẹ, thì cần phải được cha mẹ đồng ý. Có nhiều bài kinh kể lại một số vị muốn xuất gia mà khi xin bố mẹ không cho họ phải thể hiện sự quyết tâm, kiên trì của mình để thuyết phục cha mẹ bằng cách quỳ trước mặt cha mẹ nhiều giờ hoặc nhiều ngày không ăn không uống. Cha mẹ thương con quá chịu không nổi, thà cho xuất gia mà con còn sống, chứ không nó đói chết càng khổ hơn nên cuối cùng phải cho xuất gia. Nhưng đó là câu chuyện mà nghe kể lại, bây giờ nếu một số vị ở đây thể hiện quyết tâm như vậy thì thầy nghĩ chưa chắc cha mẹ đã đồng ý. Mỗi thời có cách thuyết phục riêng. Cha mẹ nào cũng thương con, muốn con sau này có được hạnh phúc, tốt đẹp, vì thế mình phải làm sao cho cha mẹ hiểu được Phật Pháp ít nhiều và hiểu được mục đích cao quý của việc xuất gia sẽ tốt hơn.

Những vị sa-di đầu tiên khi vô tu học, họ không phải thọ mười giới như chúng ta. Những giới điều này khi bắt đầu có giới luật rồi thì đời sau mới chọn lựa ra các quy định phù hợp cho người mới vào tu, đang tập sự về nội dung cũng như số lượng giới điều. Rồi người ta chia mười học giới làm hai loại : trọng và khinh(nặng và nhẹ). Khi vi phạm học giới gọi là trọng thì có thể bị trục xuất, bị cởi áo cà sa, trả về nhà; nhẹ bị phạt hoặc nhắc nhở. Rồi thêm một số nội dung nữa, chẳng hạn như đối với Tam Bảo phải thế nào, đối với các vị ty-khưu và sa-di phải ứng xử làm sao. Đối với ty-khưu-ni hoặc nữ giới thì phải ứng xử làm sao. Sau khi phân chia ra trọng và khinh, từ mười điều biến thành ba mươi điều.

Mấy chú sa-di mới vô đều đang tập sự cả cho nên đi, đứng, ngồi, nằm, ứng xử còn thô tháo, cần phải cho học và thực tập những gì để có oai nghi tế hạnh, để nói năng ứng xử chuẩn mực, thể hiện người tu hành luôn luôn tỉnh giác biết mình. Vậy là 75 học giới trong ty-khưu tách ra, đưa cho sa-di học, gọi là 75 “ưng học pháp” hay là 75 “chúng học pháp”. Rồi cũng chưa đủ ! vì các sa-di sống với thầy, cho nên quan hệ thầy trò cần phải rõ ràng. Họ lấy mười bốn điều liên hệ đến chuyện thầy trò thân cận ở trong nội dung “ các pháp nên hành trì của ty-khưu” đưa vào, gọi là 14 phẩm hạnh của sa-di đối với thầy hoặc thầy đối với đệ tử.

Ba mục đích đầu tiên của vị sa-di khi vào tu tập, khi xuống tóc cho các học viên :

”Con nguyện dứt trừ các điều(hành vi) xấu ác;

Con nguyện tu tập các hạnh lành;

Con nguyện giữ tâm ý mình trong sạch.”

Bây giờ người ta chế ra rất nhiều điều học, và nghĩ rằng với những điều học như vậy thì vị sa-di sẽ tốt hơn. Dụng ý thì tốt, nhưng mà thay vì để cho người ta trọn vẹn với mục đích tu tập, miễn là những hành vi xấu ác mình từ bỏ, hành vi nào lệch thì mình điều chỉnh lại. Nghĩa là giao dục ngay từ nhận thức thì nay người ta không giáo dục để người cơ sở nhập đạo nhận thức ra vấn đề và tự sửa đổi, mà đặt người tu học vào trong vòng cương tỏa của những điều cấm, không được làm cái này, cái kia !

Trước khi đức Phật qua đời, Ngài cũng đã dặn : Sau này Tăng chúng thấy trong các qui định, trong giới và luật, những điều nào nhỏ nhặt quá, không quan trọng thì bỏ đi. Nhưng trong các kỳ kết tập lời dạy của đức Phật, những vị có trách nhiệm – vì quá tôn trọng đức Phật hoặc không có đủ tầm để thấy ra điều nào khinh, điều nào trọng, điều nào là nhỏ nhặt – nên các vị trưởng lão vẫn chủ trương là để nguyên. Chính vì vậy bây giờ chúng ta còn nguyên những qui định từ thời đức Phật. Dĩ nhiên có một số điều không còn phù hợp hoặc không còn giá trị về mặt tác dụng nữa, vì không còn các đối tượng để liên hệ.

Thời đại chúng ta bây giờ mới sinh ra chuyện xuất gia gieo duyên, ngày xưa khi xuất gia dứt khoát, từ bỏ gia đình và đi luôn. Trừ khi mình không thể theo đuổi được lý tưởng tu học đến trọn đời vì một số chướng ngại, do không vượt qua được những cám dỗ của đời sống thì người ta phải “bán đồ nhi phế” – tức nửa đường bỏ cuộc. Còn hầu hết khi xuất gia thực sự là với mục đích cắt đứt mọi dây trói buộc của gia đình, làm người xuất gia phạm hạnh, hướng đến lý tượng giác ngộ giải thoát. Vậy vì sao có hình thức xuất gia gieo duyên này ?

Xuất gia gieo duyên là một hình thức tu tập được vận dụng về sau. Riêng tại Thái Lan, trong thời kỳ bắt đầu hình thành nhà nước quân chủ vào thế kỷ XIII, dưới triều đại của vua Ramkhamhaeng. Vua Ramkhamhaeng là người chế tác ra chữ viết, có công thỉnh các vị cao tăng Sri Lanka về truyền bá Phật pháp tại Thái Lan, sau đó lan tỏa ra cả nước. Trước giai đoạn đó, Thái Lan chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là Phật giáo Đại thừa của Campuchia. Nhưng đến khi vua Ramkhanghaeng cung thỉnh được vị cao tăng bên Sri Lanka và nhóm ty-khưu xứ ấy và đưa bản kinh vừa được kết tập ở Sri Lanka không lâu trước đó sang vùng đất Sukhothai (Trung bộ Thái Lan) thì Phật giáo nguyên thủy bắt đầu được truyền bá, có chỗ đứng và lan rộng khắp nước, rồi trở thành quốc giáo. Một người cháu của nhà vua xuất gia sau đó hoàn tục và lên ngôi vua. Từ đó hình thành tập quán xuất gia gieo duyên tại đây. Miến Điện vào dịp tết của họ, vào rằm tháng Tư có rất nhiều thanh niên trẻ, nam, nữ vào chùa tu gieo duyên mấy tuần.

 

Thanh thiếu niên xuất gia gieo duyên tại Thi Han Chve – Myanmar

Mục đích của xuất gia gieo duyên là gì ? tùy theo từng người, nhưng nói tóm lại có thể phân ra các mục đích như sau :

  • Thứ nhất, mình không thể hành trì trọn vẹn cả đời sống xuất gia cho nên tạm thời buông bỏ, tạm dẹp công việc thế tục qua một bên và tham gia một khóa tu học. Khi tham gia khóa tu học trọn vẹn của một người xuất gia thực sự khác hẳn với chuyện học Phật pháp qua từng buổi học về giáo lý, với thầy dạy, trò ghi chép rồi về. Ở đây, học và hành luôn đi đôi với nhau, sống trọn vẹn trong không khí tu học thật sự, chứ không phải chỉ hiểu trên lý thuyết.
  • Thứ hai, có người thấy đời sống thế gian nhiều phiền não, nhiều bận rộn, và được giới thiệu đời sống xuất gia là nhẹ nhàng, tốt đẹp, ít lăng xăng; vì vậy nên muốn thử trải nghiệm đời sống xuất gia xem sao, nếu phù hợp thì sau này mình sẽ xuất gia luôn. Điều này xảy ra ở một số học viên, sau khi trải nghiệm đời sống xuất gia một khóa hoặc hai khóa rồi cuối cùng quyết định xuất gia trọn đời.
  • Thứ ba, lý do này thường xuất hiện ở các nước Thái Lan, Miến Điện : Xuất gia để báo hiếu. Như trường hợp một người đã mất bố hoặc mẹ, nên phát nguyện vào chùa tu học, xuống tóc xuất gia làm sa-di, tu nữ. Họ nghĩ rằng với phước báu tu học đó hồi hướng cho cha mẹ là một cách để báo hiếu. Ngoài ra còn có một số lý do khác nữa tùy từng trường hợp riêng biệt, nhưng thường thì có ba nguyên nhân như vậy.

Khi tham gia Xuất gia gieo duyên, chúng ta học hỏi điều gì ? ở các nước khác, đặc biệt ở Thái Lan, Miến Điện, đa phần vì do các học viên từ nhỏ đã đi chùa hoặc học ở trường trong chùa, cho nên nghi lễ, kinh kệ họ rất là rành. Những bài kinh kệ, nghi lễ phổ thông họ biết hết. Do vậy, khi vào học thì họ học để hành thiền là chính; nội dung Phật học cũng ít. Có những nơi được tổ chức thường xuyên và qui mô. Một số chùa thì không tổ chức theo lớp, do có người có nhu cầu muốn gieo duyên nên chùa nhận và cho họ xuống tóc, thọ giới và sinh hoạt chung với những vị xuất gia trong chùa. Dĩ nhiên họ không được đào tạo theo lối khóa học tu tập, mà họ chỉ sinh hoạt theo các vị tăng của chùa đó một thời gian, gọi là “gieo duyên lành với đời sống xuất gia”.

Trích dẫn :”Nắm lá trong tay đức Phật”

Ảnh sinh hoạt đời sống xuất gia gieo duyên