Duyên lành, gia đình chúng con O.N Charity Group cung thỉnh ngài Tỳ Khưu Tuệ Nhân đến tư gia đảnh lễ, nghe thời Pháp và được hùn phước cúng dường xây dựng Bảo Tháp Tàng Kinh Thánh Điển (Dhammacetiya).
Cung thỉnh Tỳ Khưu Tuệ Nhân
Sơ lược
Tâm tư duyên khởi
Bảo Tháp Tàng Kinh Thánh Điển Dhammacetiya
- Bảo Tháp Giáo Pháp (Dhamma Cetiya) – Lưu trữ các Tam Tam Tạng Kinh Điển bằng 10 ngôn ngữ, nhằm bảo tồn và truyền bá những lời dạy quý báu của Đức Phật.
- Bảo Tháp Xá Lợi (Dhātu Cetiya) – Tôn trí Xá lợi của Đức Phật và chư vị Thánh tăng, để nhắc nhở mọi người về mục tiêu tối thượng của sự tu tập.
- Bảo tháp Vật dụng (Paribhoga Cetiya) – Trồng Cội Bồ-đề, biểu tượng thiêng liêng gắn liền với sự kiện giác ngộ của Đức Phật.
- Bảo tháp Tôn tượng (Uddissaka Cetiya) – Tôn trí hình ảnh, tôn tượng của Đức Phật, giúp mọi người luôn nhớ đến những đức tính cao quý mà Đức Phật đã truyền dạy.
Ý nghĩa của việc Bố thí cúng dường
Đức Phật dạy trong 10 Pháp Ba La Mật, Bố thí làm đầu và muốn gieo trồng căn lành ở Tam bảo thì phải cúng dường Đại Chư Tăng là chính. Bố thí và cúng dường thế nào cho đúng .
Phật nói muốn lên bờ giác ngộ phải bố thí, nhưng tại sao chúng ta bố thí cả tài sản mà cuộc đời chúng ta không thay đổi. Vì chúng ta không áp dụng đúng, nên phước không sanh mà nghiệp sanh. Còn cúng dường chư Tăng cũng thế, cúng dường đúng pháp sanh phước, không đúng thì sanh tội. Cho nên, nếu hiểu đúng và làm đúng lời Phật dạy sẽ có kết quả tốt đẹp.
.Tâm cúng dường đồng đều nhau cả thảy.
Bố thí là thể hiện lòng thương người, thấy họ gặp hoàn cảnh khó khăn, ta động lòng thương giúp đỡ, nghĩa là đầu tiên lòng từ bi của chúng ta phát sanh. Từ việc tốt này ta sanh được chút phước. Khá hơn nữa, cho họ thức ăn, kèm theo lời khuyên chỉ bảo họ đứng dậy được là có thêm chút phước. Và nếu họ trở thành quyến thuộc tâm lành với ta, tức họ phát tâm Bồ đề, thì chúng ta lại sanh thêm phước. Cảm đức của ta, họ trở thành người tốt. Còn nghĩ bố thí mà lại phát hiện những đối tượng nhận của không xứng đáng để cho, nên ta bực tức, nghĩ rằng mình không dám ăn, để cho họ thật là uổng. Bố thí như vậy, phước không sanh, mà nghiệp sanh là tâm mình buồn phiền, bực tức, khó chịu. Và nghiệp nặng hơn nữa là tâm buồn khổ, dẫn đến bệnh hoạn, làm ăn thất bại, bạn bè tránh xa, bố thí sai thì hậu quả không lường được…
Nên bố thí để xả ly không cầu mong phước, thì phước sẽ càng lớn.
Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy có ba cách cúng dường:
- Phẩm vật cúng dường
- Kính tín cúng dường
- Hạnh cúng dường.
Trong ba cách này, phẩm vật cúng dường là nhỏ nhất, nhưng so với pháp cúng dường không bằng một phần trăm, nghĩa là một phần rất nhỏ. Và phẩm vật đi theo tâm lớn hay nhỏ cùng với nghiệp của người cúng dường, mà kết quả của việc cúng dường sẽ biến đổi theo. Nếu tâm chúng ta tốt, vật càng lớn thì phước càng lớn. Tâm quyết định tất cả, nên phải phát tâm rộng lớn.
Phẩm vật cúng nhiều hay ít không quan trọng, nhưng tâm mới quan trọng; vì chết phải bỏ vật chất, chỉ có tâm thiện ác, tốt xấu dẫn đường chúng ta đi thọ sanh.
GIẢI VỀ PHÁP BỐ THÍ
Sự bố thí có ba tướng là:
- Tác ý dứt bỏ đem cho (Cāgacetanādāna).
- Rứt của ra, đem cho (Viratidāna).
- Vật cho (Deyyadhammadāna).
- Tác ý dứt bỏ đem cho là nói về những người có đức tín trong sạch, tính đem của ra cho.
- Rứt của đem cho chỉ về người có đức tin trong sạch, có sự Hổ thẹn (Hiri), và Ghê sợ tội lỗi (Ottappa), tránh xa 5 điều oan trái (Pañca vera), tức là không sát sanh, không trộm cắp, vân vân…
- Vật cho, là nói về cơm, nước, y phục, v.v…
Cả 3 phép Cho ấy phát sanh trong tâm người, đều nuơng theo Trí tuệ chơn chánh và tâm không tham lam (Alobha).
GIẢI RẰNG:
Người có Trí tuệ xét thấy tội phước, lợi ích, vô ích, nghĩa là hiểu rằng: Bố thí, Trì giới, Tham thiền, vân vân… được phước hằng đem sự yên vui đến cho, như thế gọi là trí tuệ chơn chánh. Người rõ rằng có tội, nghĩa là: sát sanh, trộm cướp, vân vân…, thì phải mang quả khổ, như vậy, gọi là trí tuệ chánh kiến. Nhờ có trí tuệ chánh kiến và tác ý không tham lam (Alobhacetanā), đều đủ cả 2 nhân đó rồi mới tính bỏ của ra, đem cho. Cho mà được phước nhiều là do 3 tác ý, là:
- Tác ý trong sạch đầu tiên, tính cho các vật dụng, nhứt là cơm, nước (Pubbacetanā).
- Tác ý trong sạch trong khi đương cho (Muñcanacetanā).
- Tác ý trong sạch sau khi đã cho rồi (Aparāparacetanā), tâm thường vui thích.
Cả ba tác ý đó gọi là đều đủ Tác ý (Cetanā sampadā). Đều đủ vật dụng (Vatthusampadā) là nói về cơm, nước, thuốc men, chỗ ngủ mà thí chủ đã tìm được theo lẽ đạo, nghĩa là: không vì sát sanh, không vì trộm cắp được mà cho.
Thí chủ, người cho, có 2 chi:
- Đều đủ tác ý
- Đều đủ vật dụng.
Thọ chủ, người lãnh, có 2 chi:
- Quả đều đủ (Phalasampadā), tức là bậc A-la-hán.
- Đức đều đủ (Guṇātirekasampadā), tức là bậc mới xuất định.
Sự cho đều đủ cả 4 chi là: người cho hai chi, người thọ hai chi, thì được quả phước trong 7 ngày.
Lại nữa, sự cho đều đủ theo 6 chi, sẽ được nhiều phước là: tác ý cho về cá thể (Puggalika: riêng một thể) có 3 chi, tác ý cho về đoàn thể (Saṅgha: nhiều người kết hợp thành đoàn) có 3 chi.
Cá thể thí là (Paṭipuggalikadāna) cho theo ý muốn mình. Đoàn thể thí (Saṅghadāna) là dâng cúng đến Tăng.
Cá Thể Thí (Puggalikadāna), có 14 cách:
- Cho đến loài cầm thú.
- Cho đến người không có giới hoặc phá giới.
- Cho đến người có giới (Cư sĩ ).
- Cho đến Đạo sĩ [2] (vì chán nản cuộc đời giả tạm mà tu).
- Dâng cúng đến 10 bậc Thánh nhân (từ bậc Tu-đà-hườn đạo, đến Đức Phật toàn giác).
Cá thể thí được nhiều phước, cần phải có đủ 6 chi, là: thí chủ, người cho có đủ ba tác ý. Thọ chủ, người lãnh, có tâm không tham, không sân, không si, hoặc có sự tinh tấn tu hành để dứt tham, sân, si.
Đoàn Thể Thí là dâng cúng đến 7 bậc Tăng:
- Dâng cúng đến Tỳ-khưu Tăng, Tỳ-khưu-Ni Tăng, có Đức Phật tọa chủ.
- Dâng cúng đến Tỳ-khưu-Ni Tăng có Phật tọa chủ.
- Dâng cúng đến Tỳ-khưu Tăng.
- Dâng cúng đến Tỳ-khưu-Ni Tăng.
- Xin thỉnh 1, 2, 3 vị Tỳ-khưu Tăng và Tỳ-Khưu-Ni Tăng.
- Xin thỉnh 1, 2, 3 vị Tỳ-khưu Tăng.
- Xin thỉnh 1, 2, 3 vị Tỳ-khưu-Ni Tăng.
Lại nữa người dâng đến Tăng đó, cần phải chú tâm hướng ngay về bậc Thánh Nhơn, đừng tưởng đến phàm Tỳ-khưu. Khi đã thỉnh Tăng rồi, dầu được vị cao hạ hoặc thấp hạ hoặc Sa-di, cũng đừng bất bình buồn trách, phải giữ tâm bình đẳng, bực trung. Nếu bất bình buồn trách thì không gọi là Tăng thí.
Đoàn thể thí là phép Tăng thí được nhiều phước báo hơn.
Đức Phật có giảng thuyết đến Đại Đức Ānanda trong kinh Dakkhiṇāvibhaṅgasutta, trong dịp bà Gotamī, có tâm trong sạch, đem một cặp y dâng đến Đức Phật. Ngài không thọ lãnh, mà có tâm thương xót dạy bảo dâng cúng đến Tăng. Bà Gotamī, than khóc, đi tìm Đại Đức Ānanda. Ānanda mới vào bạch cầu xin Phật thọ cặp y. Đức Phật bèn giải rằng:
Này Ānanda! Tăng thí có phước nhiều hơn các sự thí, dầu là đến thời mạt pháp, chỉ còn có Gotrabhū Tăng, là Tăng chỉ có mang y theo tay hoặc buộc cổ, làm nghề ruộng rẫy, mua bán, có vợ con. Song các thí chủ có đức tin làm việc Tăng thí, đến thỉnh Tăng từ bốn vị trở lên, chủ tâm hướng đến Thánh Tăng, thì cũng gọi là Tăng thí, được nhiều phước báo, kể A-tăng-kỳ khó tưởng tượng được.
- Này Ānanda! Ngươi cho 100 lần đến loài cầm thú cũng không bằng quả phước cho 1 lần đến người phá giới.
- Cho 100 lần đến người phá giới, cũng không bằng quả phước cho 1 lần đến người có giới.
- Cho 100 lần đến người có giới cũng không bằng quả phước cho 1 lần đến bậc xuất gia trong sạch.
- Cho 100 lần đến bậc xuất gia trong sạch cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc Tu-Đà-Hườn (Sotāpanna).
- Cúng 100 lần đến bậc Tu-Đà-Hườn, cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc Tư-Đà-Hàm (Sakadāgāmi).
- Cúng 100 lần đến bậc Tư-Đà-Hàm cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc A-Na-Hàm (Anāgāmi).
- Cúng 100 lần đến bậc A-Na-Hàm, cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc A-La-Hán (Arahanta).
- Cúng 100 lần đến bậc A-La-Hán cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc Độc Giác Phật (Paccekabuddha).
- Cúng 100 lần đến bậc Độc Giác Phật cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến đức Phật Toàn Giác (Sabbaññūbuddha).
- Cúng 100 lần đến Đức Phật Toàn Giác, cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến Chư Tăng. Tăng thì có rất nhiều phước báo, như thế ấy.
Có lời hỏi rằng: Vì sao Tăng thí được phước nhiều hơn hết?
ĐÁP: Đức Thế Tôn xét thấy rằng, Tăng học hành tiếp nối nhau thọ trì Phật Pháp đến 5000 năm. Cớ ấy, Ngài mới giảng Tăng thí có nhiều phước báo.
Lại nữa, dâng đến Tăng thì hằng phổ thông đến tất cả Tỳ-khưu Tăng, từ đức Phật cho đến vị Tỳ-khưu và Sa-di mới xuất gia.
Phép thí lại chia có nhiều cách nữa là:
- Tài thí (āmisadāna): là cho của cải.
- Pháp thí (dhammadāna): là nói pháp cho người nghe.
- Thí theo Thời (kāladāna): là dâng y tắm mưa, y ca sa sau khi Chư Tăng ra hạ; thí của trong cơn đói kém; thí cơm gạo, trái cây mới có đầu mùa; thí thực phẩm đến người từ nơi xa mới đến, hoặc người sắp đi đường xa; đến Tỳ-khưu, Sa-di bịnh.
Về người thí, có chia ra làm ba hạng.
- Nô bộc thí (dānadāso), là hạng người tự mình dùng vật quí, đẹp mà đem những vật hèn mọn ra cho, cũng như cho kẻ tôi tớ. (Nô bộc thí thì kiếp sau được vật hèn mọn).
- Bằng hữu thí (dānasahāyo), là hạng người tự mình dùng vật thể nào, thì đem vật thể ấy ra cho. (Bằng hữu thí thì kiếp sau được vật bậc trung).
- Chủ thí (dānapati, dānasāmi, dānajeṭṭhaka) là hạng người tự mình dùng vật hèn mà đem vật quí ra cho. (Chủ thí thì kiếp sau được vật quí trọng).
Vấn: Cho được phước nhiều do cái chi?
Đáp: Do có Giới trong sạch, thí chủ là người cho có giới trong sạch, thọ chủ là người lãnh cũng có Giới trong sạch. Sự thí mà được phước nhiều, là nhờ thế lực của quả báo, nghĩa là: dâng cúng đến Tăng, cần phải chủ tâm tưởng đến 8 bậc Thánh.
Chư Phật thường giảng giải về phép Bố thí, Trì giới, Tham thiền vì sự Bố thí là nhân dứt lòng tham, Trì giới là nhân trừ giận, Tham thiền là nhân diệt si mê. Lại nữa, người Bố thí, Trì giới, Tham thiền, hãy nên mong mỏi thiêu hủy cái lòng tham, sân, si để chứng Niết-Bàn dập tắt đều thống khổ, nếu cầu được làm người, hoặc Trời thì hằng bị cái khổ sanh, già, đau, chết, trong vòng luân hồi, hết kiếp nầy sang kiếp khác, vô cùng vô tận.
Sự bố thí hằng đem quả vui trong cõi người là:
Được làm bậc Chuyển Luân Vương (Cakkavattirāja) có 7 vật báu: voi báu, ngựa báu, xe báu, ngọc báu, nữ báu, tướng soái báu và tổng tài chánh báu.
- Được làm vị Hoàng Đế.
- Được làm bậc triệu phú gia.
- Được làm bậc nhà giàu.
- Được làm người no đủ.
Đức Giáo Chủ có giải về 5 quả báo của sự bố thí cho quan Thủ Tướng Sīha nghe rằng, thí chủ:
- Thường được quần chúng thương yêu.
- Thường được nhiều người thân cận.
- Thường được người và Chư thiên khen ngợi.
- Thường được quyền thế và nhiều kẻ tùy tùng.
- Thường không e sợ, có sự dạn dĩ trong chỗ hội họp.
Năm quả báo trên đây, hằng được thành tựu đến thí chủ trong đời nầy, do dứt lòng bỏn xẻn đem của ra cho.
Lại nữa, những người mong tìm đều yên vui trong cõi người, trời và Niết-Bàn, hãy nên làm việc Bố thí, sau khi mạng chung sẽ được thọ sanh trong nhàn cảnh, như tích Đức Hoàng Đế Asoka sau nầy:
Tích giải về tiền kiếp của Hoàng Đế Asoka.
Trong thời quá khứ, tại thành Bārāṇasī, có người bán mật ong nơi chợ. Thuở đó có một vị Độc Giác Phật (Paccekabuddha) mang bịnh ghẻ, Đức Độc Giác Phật khác đi tìm mật ong để làm thuốc trị bịnh, Ngài bèn từ núi Gandhamādana đi đến thành Bārāṇasī. Có một cô tớ gái đi xuống bờ sông gánh nước, thấy Đức Độc Giác Phật đi đến, bèn hỏi thăm, rồi đưa tay chỉ quán bán mật ong rằng: người bán mật ong ở trong chỗ kia, xin Ngài đến đó đi. Cô lại suy nghĩ: nếu người bán không chịu cúng, ta sẽ đi đến lấy mật ong dâng cho được, sau sẽ tìm của trả cho họ, rồi cô vẫn đứng chờ, Đức Phật Độc Giác đi đến trong chợ, người bán mật xem thấy liền tỏ lòng hoan hỉ, dâng mật ong cho đến đầy bát, rồi chú tâm nguyện rằng: Bạch Ngài, do sự phước thí nầy, xin cho tôi sẽ làm một vị Hoàng Đế, có thế lực cao đến một do tuần (yojana) thấu trên hư không, 1 do tuần thấu dưới đất. Đức Độc Giác Phật đáp: nầy người Thiện nam! Cái quả nguyện vọng của người hãy được thành tựu như thế đi; xong rồi trở về núi Gandhamādana. Về phần cô tớ gái gánh nước, thấy vị Độc Giác Phật trở về, bèn bạch hỏi, Ngài được mật ong chăng? Đức Phật Độc Giác đáp: Atmā được mật ong rôi, người bán mật ong có dâng đến Atmā rồi, họ nguyện sẽ thành 1 vị Hoàng Đế trong Nam thiệm-bộ châu (Jambudīpa). Cô tớ gái nghe nói như thế, bèn đem cái khăn dâng đến Đức Độc Giác Phật, để lược mật ong, rồi nguyện sẽ thành vị Chánh Hậu của Hoàng Đế đó.
Do phước thí và lời nguyện vọng của người bán mật và cô tớ gái đó, sau khi mạng chung rồi, cả hai đều được sanh trong cõi trời Đạo Lợi, ngự trong điện toàn bằng 7 báu, có ngọc nữ hầu hạ rất đông. Hưởng phước rất lâu, qua đến giáo pháp Đức Phật Thích Ca chúng ta đây người bán mật giáng sanh làm vị đông cung tên Asokakumāra trong số 101 vị hoàng tử của đức vua Bindusāra tại kinh đô Pātaliputta. Sau khi vua cha thăng hà, đức đông cung lên làm hoàng đế trong châu Nam Diêm-Phù-Đề. Thuở Phật lịch được 218 năm Đức Hoàng đế Asoka (A-Dục Vương) có thế lực rất lớn (do cái nghiệp lành Bố thí của Ngài đã tạo từ kiếp trước) thấu trên hư không 1 do tuần, dưới đất 1 do tuần có chư thiên từ núi Tuyết Sơn đem 16 thùng nước cùng các thứ trái cây quí, đến dâng mỗi ngày; chư Thiên trên các cõi đời đem dâng y ngũ sắc, y màu vàng, vải để lau tay, Long Vương dâng vật thơm để tắm, dồi, thoa, và thuốc để trị bịnh quí giá; loài két tha lúa mọc tự nhiên trong ao Chaddanta đến dâng mỗi ngày, v.v… Về phần cô tớ gái, cũng giáng sanh làm vị Chánh hậu của Hoàng đế Asoka, tên là Asandhimittā, mấy chỗ khớp xương tay và chơn của bà bằng thẳng trong sạch, không rõ rệt như thường nhơn, (trừ phi khi bà co vô), đó là nhờ phước mà bà đã tạo trong làm cô tớ gái gánh nước, chân đi, tay chỉ người bán mật ong cho Đức Phật Độc Giác.
Trong thuở bà hưởng ngôi Chánh hậu, Đức Hoàng đế Asoka vào cung thấy bà đương dùng mía của Chư thiên đem dâng, miệng nhai mía mà vẻ mặt càng thêm tươi tốt, Đức Hoàng đế Asoka phán hỏi rằng: Hậu có biết mía của ai mà Hậu dùng đó chăng? Bà tâu: mía của hạ thần. Đức Hoàng đế Asoka nghe rồi phán: nhờ trẫm có nhiều phước báu, nên Chư thiên mới đem đến dâng cho. Chánh hậu tâu: đó là phước của hạ thần, nào phải của hoàng thượng. Đức Hoàng đế bất bình mà rằng: nếu hậu nói là phước của hậu, vậy ngày mai nầy trẫm sẽ dâng thực phẩm đến 500 vị Tỳ-khưu tăng, hậu phải có đủ 500 bộ tam y cho trẫm dâng cúng, bằng không sẽ bị trẫm hành hình. Bà nghe đức Hoàng đế phán như vậy, bèn kinh hãi, vì đức vua không bao giờ nói chơi, nếu lo không đủ, ngày mai ắt bị tội không sai. Tối đêm đó bà trằn trọc không an giấc, đến khuya nghe Chư thiên mách rằng, bà đừng lo, sự bố thí cái khăn đến Đức Độc Giác Phật để lược mật ong, trong tiền kiếp của bà, nó sẽ tự đem an vui đến cho bà, bà hãy an giấc, sáng ra gần bên mình bà sẽ có cái hộp đựng y, trong đó bà muốn bao nhiêu cũng có đủ. Bà Chánh hậu nghe Chư thiên mách bảo, bèn an giấc, sáng thức dậy, thấy có cái hộp gần bên, kéo cái y nầy rồi, thì ra cái khác, bà biết rằng sẽ được như ý muốn. Đến giờ đức Hoàng đế thỉnh 500 vị Tỳ-khưu Tăng ngọ thực, bèn bảo Chánh hậu đem y cúng; bà bèn rút y trong hộp ra, hết cái nầy đến cái khác, dâng đều đủ mà cũng vẫn còn hoài, không hết y. Đức hoàng đế thấy vậy mới rõ rằng bà là người đại phước, bèn gia tăng quyền tước thêm cho bà, rất yêu chuộng bà hơn khi trước.
Cả hai vị: Đức Hoàng đế Asoka và bà Chánh hậu Asandhimittā, nhờ trong tiền kiếp đã có tâm tín thành, trong sạch làm việc bố thí, nên mới được thọ quả vui trong cõi trời và cõi người như đã giải.
(Giải tích nầy cho thiện tín dùng trí tuệ suy xét và ghi nhớ rằng: sự Bố thí không luận là ít hay nhiều, chỉ vì tâm trong sạch hoan hỉ, thành kính cúng dâng, thì chắc được phước báu khó tưởng tượng được).
TÍCH JĀṆUSSOṆI BRĀHMAṆA
Bhante bho Gotama kira: Đã có nghe như vầy:
Có một người Bà la môn tên là Jāṇussoṇi đến bạch hỏi Đức Phật như vầy: Chúng tôi lo làm các việc lành, nhứt là Bố thí, Trì giới rồi hồi hướng đến những quyến thuộc (cha mẹ, ông bà, vân vân…)đã quá vãng; các quyến thuộc chúng tôi đó, đến thọ lãnh quả phước đó được chăng? Đức Phật đáp: Ṭhāne kho aṭhāne kho brāhmaṇa – Nầy người Bà la môn, đáng được cũng có, không đáng được cũng có:
- Chúng sanh đã làm nghiệp dữ do thân, khẩu, ý, đến khi tan rã ngũ uẩn, phải thọ sanh trong địa ngục, chịu nhiều điều khổ não nặng nề, vì ác quả đó, nên không có thể đến thọ lãnh được phước của thân quyến hồi hướng cho.
- Chúng sanh đã làm tội do thân, khẩu, ý, sau khi mạng chung phải bị luân hồi làm cầm thú, có thực phẩm riêng theo loài của chúng nó, chúng nó cũng không thọ hưởng được phước của thân quyến hồi hướng cho.
- Chúng sanh không làm tội do thân, khẩu, ý, sau khi thác được sanh trong cõi trời, sẵn có thực phẩm tự nhiên, không cần thọ thực phẩm thân quyến Bố thí hồi hướng cho cũng không thành tựu.
- Chúng sanh đã làm tội bằng thân, khẩu, ý, sau khi quá vãng, đầu thai trong loài Ngạ quỉ hằng chịu đói cơm, khát nước, phải trải đi lãnh phần phước, khi có thân quyến Bố thí hiệp theo lẽ đạo, rồi hồi hướng cho, Ngạ quỉ hoan hỉ thọ lãnh vật thí đó biến thành thực phẩm, hưởng rồi được sự an vui, khỏi đường Ngạ quỉ, đi thọ sanh trong nhàn cảnh (cõi người và cõi trời).
Đức Phật vừa thuyết xong về cách đáng thọ lãnh cùng không đáng thọ lãnh, người Bà la môn bèn bạch hỏi thêm rằng: Nếu người đã làm phước hồi hướng mà các Ngạ quỉ không được lãnh, thì phước đó trú nơi nào? Là của ai? Ai đem đi?
Đức Phật đáp; Nầy người Bà la môn, Ye sattā: chúng sanh nào còn bị xoay vần trong vòng luân hồi, thì không khỏi sa đọa trong đường Ngạ quỉ, chúng sanh đó sẵn lòng hoan hỉ thọ lãnh phần phước, vì còn phải chuyển sanh nhiều đời nhiều kiếp, hằng luân hồi làm thân quyến cùng nhau vô cùng vô tận kiếp… Nếu quả Bố thí không thấu đến hạng Ngạ quỉ, thì về phần thí chủ, vì thí chủ đã có tác ý trong sạch trong khi cho. Cớ ấy, thí chủ là người được quả lành trước hết tất cả Ngạ quỉ. Lại nữa, những Ngạ quỉ thọ lãnh phần phước là hàng Ngạ quỉ Dabajīvī, có tâm hoan hỉ trong việc phước, các hàng khác không có thể thọ lãnh được.
Về phần Ngạ quỉ Paradattūpajīvī đáng thọ lãnh cũng phải hiệp theo 3 chi:
1.- Thí chủ phải dâng cúng đến Tăng, hoặc bậc tu hành trong sạch.
2.- Khi đã thí vừa rồi, cần phải chú tâm hồi hướng phần phước đến hàng Ngạ-quỉ.
3.- Ngạ quỉ phải hoan hỉ thọ lãnh phần phước đó.
Vấn: Phải hồi hướng trong lúc nào?
Đáp: Ngay trong khi dâng cúng vừa rồi, nếu hồi hướng trong thời khác, không được kết quả, vì trong lúc đó hàng Ngạ quỉ sẵn chờ để thọ lãnh, ví như những người nghèo đói đến xin ăn mà thí chủ không cho, khi họ bỏ ra đi khỏi, dầu có cho cũng không có người lãnh.
Lại nữa, Bố thí đến người phá giới, giới không trong sạch, hoặc không giữ giới, cũng không được thành tựu đến Ngạ quỉ. Vả lại, đã dâng cúng đến bậc có phẩm hạnh, có Ngạ quỉ đến chờ, mà thí chủ không hồi hướng, hàng ngạ quỉ cũng không có thể thọ được, như trong tích ngạ quỉ quyến thuộc của đức vua Bimbisāra (Tần-Bà-Sa), Ngài đã dâng cúng đến chư Tăng trong ngày đầu mà quên hồi hướng, quả phước cũng không thành tựu đến Ngạ quỉ được.
Qua ngày thứ nhì, được nghe đức Phật giảng thuyết xong, bố thí thêm, rồi hồi hướng, các hàng Ngạ quỉ mới hoan hỉ thọ lãnh được.
Trích dịch trên đây cho thiện tín suy xét để làm phước đến những quyến thuộc đã quá vãng, cho đúng theo lời Phật dạy, hầu được thành tựu đến hàng Ngạ quỉ.
Sự bố thí có 2 phép nữa là:
1.- Cho bằng cách tế độ (Saṅgahavasena).
2.- Cho bằng cách cúng dường (Pūjāvasena).
Cho bằng cách tế độ, là cho đến kẻ nghèo hèn, đói khát, không nơi nương dựa, hoặc người mang bịnh tật hoặc loài cầm thú, do lòng thương xót, mong giúp người trong cơn tai nạn.
Người cho đến cầm thú, hằng được quả báo 100 kiếp nghĩa là:
- Được sống lâu.
- Có sắc đẹp.
- Được sự yên vui.
- Có sức mạnh.
- Có trí tuệ.
Năm quả báo đó hằng phát sanh đến thí chủ trong mỗi kiếp.
Cho đến người phá giới, không có giới, được quả báo đó trong 10.000 kiếp. Cho đến người có giới được quả báo 1.000.000 kiếp v.v…
Cho bằng cách cúng dường, nghĩa là cung cấp phụng dưỡng cha mẹ, ông bà, ông thầy có thi ân bố đức đến mình, hoặc dâng cúng đến các bậc Sa môn, Bà la môn tu hành chơn chánh, đến người trì giới trong sạch, đều gọi là cúng dường cả.
Vấn: Cho bằng cách cúng dường và tế độ cách nào phước nhiều hơn?
Đáp: Cách cúng dường được phước nhiều vô số kể.
Vấn: Cái chi là vật thí?
Đáp: Của cải, nhứt là cơm, nước, y phục, là vật thí, tác ý tính dứt của ra (cāga) là nhân, đem cho (dāna) là quả.
Vấn: Bố thí được quả báo thế nào?
Đáp: Được 2 quả báo: trong kiếp nầy và trong đời sau.
GIẢI VỀ PHÁP THÍ
Phật có giải cho đức Đế Thích (Kosiyamar-indradhirāja) nghe rằng:
- Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti,
- Sabbaṃ rasaṃ dhammaraso jināti,
- Sabbaṃ ratiṃ dhammaratī jināti,
- Taṅhakkhayo Sabbadukkhaṃ jināti.
- Pháp thí thắng tất cả sự thí.
- Vị của pháp thắng tất cả vị.
- Ưa thích pháp thắng tất cả sự ưa thích.
- Dứt lòng tham muốn thắng tất cả thống khổ.
Lời chú giải:
Nếu người dâng cúng y quý giá, đến đức Phật Toàn Giác, đức Độc Giác và chư Thinh Văn Giác hội họp nhau đông đúc, ngồi kề nhau đầy đủ trong khắp cả thế giới, cho đến cõi trời Phạm thiên, quả báu của sự Bố thí đó, cũng không sánh bằng Pháp sư thuyết 4 câu kệ. Sự thí y đó không bằng 1 phần kệ ngôn mà người chia ra 16 phần, rồi lấy mỗi phần chia ra 16 phần nữa. Sự thuyết Pháp, hoặc dạy Pháp, hoặc nghe Pháp, là điều cao thượng như thế. Người nào làm đầu dẫn dắt trong sự nghe Pháp thì được quả báu rất nhiều, vô số kể, không sai. Pháp thí, dầu chỉ có tâm hoan hỉ theo 4 câu kệ cũng còn quí hơn tài thí mà người đem thực phẩm quí giá để đầy trong bát, dâng đến bực A la hán, hơn thí thuốc (sữa, dầu…), hơn thí chỗ ngụ (nhà, tịnh thất, chùa…) như ông triệu phú gia Cấp Cô Độc, đã tạo Bố Kim tự, dâng đến Chư Tăng có Đức Phật chủ tọa. Cớ sao? Vì người làm phước như thế là nhờ được nghe Pháp, bằng không, cũng không làm được, vì nếu chúng sanh không được nghe Pháp, dầu là một muỗng cháo, một vá cơm cũng không có thể thí được, cho nên gọi Pháp thí là cao thượng hơn tất cả sự thí.
Lại nữa, trừ phi Đức Phật Toàn Giác, tất cả chư Tỳ-khưu, nhứt là Đại Đức Xá-Lợi-Phất (Sārīputta) có nhiều trí tuệ, có thể đếm giọt mưa từ trên hư không rớt xuống trong một kiếp, mà cũng không chứng đạo quả được: nhờ nghe Pháp của Đại Đức Assaji rồi mới đắc Tu-đà-hườn quả, sau nghe thêm Pháp của Đức Phật mới chứng A-la-hán quả. Cớ ấy, Đức Thế Tôn giải rằng: Pháp thí thắng tất cả sự thí.
Hơn nữa, dầu là những vị thực phẩm rất quí của Chư thiên, cũng đều là cái duyên dẫn dắt chúng sanh, say đắm trong đường sanh tử, phải chịu nhiều điều khổ não thôi.
Về phần vị của Pháp, như 37 pháp Bồ đề (Bodhipakkhiyadhamma) hoặc 9 pháp Thánh đều là quí trọng hơn cả. Nhơn đó Đức Thế Tôn thuyết rằng: Vị của Pháp thắng tất cả vị.
Sự ưa thích nhiều lẽ, như ưa thích vợ con, ưa thích gái đẹp, trai xinh, ưa thích đờn kèn, uyển sáo, vân vân… Các sự thích đó đều là cái duyên níu kéo chúng sanh trong nẻo luân hồi, phải mang quả khổ vô cùng vô tận. Trái lại, sự ưa thích phát sanh trong tâm của Pháp sư, hoặc người nghe Pháp, làm cho thân tâm dường như bay bổng, cả châu thân nhẹ nhàng, mát mẻ, cả mình mọc ốc cũng có sự ưa thích đó tức là điều phỉ lạc, có thể đem người ra khỏi vòng sanh tử được; ưa thích như thế gọi là quí trọng hơn cả sự ưa thích, cho nên Đức Phật giải rằng: Sự ưa thích trong Pháp, thắng tất cả sự ưa thích.
Lại nữa, chư vị A-la-hán gọi là cao quí hơn cả, vì không còn phải chịu mang khổ luân hồi nữa, lẽ đó đức Thế Tôn mới thuyết: Sự dứt lòng tham muốn thắng tất cả khổ não.
Thí pháp chia ra có 2 phần nữa là:
- Thí pháp ở trong đời (Lokiyadhamma-dāna), là thuyết pháp chỉ dạy con đường người và trời thì được phước ít, vì là Pháp dẫn dắt chúng sanh xoay vần trong biển khổ.
- Thí Pháp ra cõi đời (Lokuttaradhamma-dāna) là thuyết về 3 cái tướng (tilakkhaṇa) cho chúng sanh thấy rõ đời là: Vô thường (aniccaṃ), Khổ não (dukkhaṃ), vô ngã (anattā), nhứt là cái thân ngũ uẩn, sanh ra rồi phải già, bịnh, chết, chẳng có một ai tránh khỏi cái khổ ấy được; hoặc giảng về Pháp Tứ diệu đế.
a) Khổ đế (có cái thân nầy là khổ).
b) Tập đế (tâm ham muốn là nguyên nhân sanh các sự khổ).
c) Diệt đế dứt cái lòng ham muốn để đến Niết-Bàn là nơi hết khổ).
d) Đạo đế (là con đường đi đến nơi hết khổ, tức Bát Chánh Đạo). Thí pháp như thế, được phước vô lượng vô biên.
Giải rằng: Người nghe cần phải hết lòng thành kính mà nghe, nghe rồi phải tìm hiểu bằng trí tuệ chơn chánh để thật hành theo, như thế mới gọi là hữu ích.
Vấn: Cái chi gọi là Pháp?
Đáp: Trí tuệ chánh kiến gọi là Pháp.
Vấn: Trí tuệ chánh kiến nói về cái chi?
Đáp: Là trí tuệ hiểu biết đúng đắn, tin chắc rằng cái nghiệp lành hoặc dữ mà mình đã tạo, nó là của mình, mình phải chịu ảnh hưởng của các nghiệp đó.
Nghĩa: nếu đã làm lành thì hưởng quả vui, làm dữ phải mang quả khổ, vui hoặc khổ cũng do nơi mình, chẳng có một ai ban phước hay cho tọi được cả.
Lại nữa, thí chủ đừng vì lòng ham muốn mà cho, nghĩa là đừng mong sẽ được tái sanh làm người cao sang quyền thế hoặc được thọ sanh trong cõi trời, chỉ phải cầu nguyện ra khỏi vô minh, ái dục là điều ô nhiễm buộc trói chúng sanh dính mắc trong sông mê biển khổ. Cho nên trong khi Bố thí, hãy chú tâm nguyện rằng:
Idaṃ vata me dānaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu anāgate:
Xin cho phước thí mà tôi đã trong sạch làm đây, hãy là món duyên lành, để dứt khỏi những điều ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm, trong ngày vị lai.
(Chư thiện tín nên suy xét theo chân lý để tìm làm việc thí Pháp cho thường và nhớ câu phát nguyện giải thoát trên đây, ngỏ hầu mau được dứt khỏi các điều thống khổ).
Bhikkhu VAṂSARAKKHITA
Tỳ khưu HỘ TÔNG
Ảnh
Lần 3 (5.2025)
Duyên lành, gia đình chúng tôi O.N Charity NGUYEN THI OANH, cùng đồng hành, hùn phước với công trình trong suốt thời gian qua. Nay công trình đã được khởi công. Nhận được lời mời tham dự chương trình và đó cũng là tâm nguyện của tất cả Chư tăng Ni, Phật tử và những người thuận thành… không chỉ riêng gia đình chúng tôi với công trình bảo tháp này. Dẫu biết con đường sẽ không dễ dàng, O.N Charity NGUYEN THI OANH sẽ luôn đồng hành gắn bó với công trình vì lợi ích chung của nhân loại, của toàn chúng sanh…
Lần 2 (4.11.2024)
Gia đình cung thỉnh đảnh lễ cúng dường Đại Bảo Tháp Tàng kinh thánh điển lần thứ 2 tại nhà chị Vân (Nhỏ)
Lần 1 (12.7.2024)
Cầu mong tất cả chúng sinh đều có được cơ hội làm phước thiện cúng dường thanh cao như chúng con ngày hôm nay, để được an vui và hạnh phúc.
Sādhu! Sādhu! Sādhu!
























